Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017

"TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA" VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG

Hiện nay ở nước ta hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về đạo đức, lối sống đang diễn ra và được biểu hiện ở nhiều mức độ. Biểu hiện đầu tiên của những người “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về đạo đức, lối sống là nhìn nhận đạo đức, lối sống có sự sai lệch, chỉ thấy mặt tiêu cực, mặt xấu mà không thấy mặt tích cực, không thấy những giá trị đạo đức, lối sống tốt đẹp của dân tộc, của cách mạng.
Những người có tư tưởng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về đạo đức, lối sống thường là những người thiếu tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống, nên dần bị tha hóa, bị cái xấu lấn lướt những cái tích cực trong con người mình. Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nhận định: “Tình trạng thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên”. Đó chính là sự yếu kém, mất dần cái tốt, cái tiến bộ, làm tăng dần cái xấu, cái lạc hậu, làm chậm lại quá trình phát triển và dẫn đến sự thoái hóa, biến chất của chính bản thân con người và tổ chức.
Suy thoái về đạo đức, lối sống còn biểu hiện ở việc du nhập lối sống tư sản thực dụng, sống buông thả, ngại học tập, phấn đấu, rèn luyện. Có một bộ phận sa vào tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, sử dụng ma túy, buôn lậu… và tha hóa về quan hệ gia đình, quan hệ xã hội. Những người này thường không còn nhiệt huyết cách mạng, tính tích cực bị giảm sút, phẩm chất cách mạng bị xói mòn. Những cán bộ, đảng viên có quyền lực mà rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về đạo đức, lối sống ngoài việc ngại rèn luyện, lười suy nghĩ, lười học tập… họ còn hình thành những “cơ chế ngầm”, tạo “cánh hẩu” để bảo vệ, bao che cho nhau, trù dập những người thẳng thắn, có thái độ đấu tranh phê bình. Họ du nhập, bắt chước lối sống tư sản, coi đó là “lẽ sống của thời đại”, trong khi đó họ lại coi thường lẽ phải, đạo lý.
Suy thoái về đạo đức, lối sống tất dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị. Ở mức độ này có thể gọi là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trầm trọng. Họ rất có thể sẽ chuyển hóa thành đối tượng phản động, chống lại Tổ quốc, chống lại Đảng, chế độ và nhân dân. Thực tế hiện nay đã có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên bị thoái hóa về đạo đức, lối sống, đúng như Hội nghị Trung ương lần thứ tư (khóa XII) nhận định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”. Đây là sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” rất nguy hiểm về đạo đức, lối sống ở nước ta hiện nay, nên cần phải nhận diễn cho rõ và đấu tranh, chấn chỉnh, loại bỏ.
TRẦN THÔN


Thứ Ba, 19 tháng 9, 2017

VAI TRÒ CỦA LIÊN HỢP QUỐC VÀ 40 NĂM ĐỒNG HÀNH CỦA VIỆT NAM

1. Vai trò và đóng góp của Liên hợp quốc đối với hòa bình, an ninh và tiến bộ của nhân loại
Ngày 24-10-1945, Liên hợp quốc ra đời là một bước ngoặt trong lịch sử thế giới, mang lại những biến đổi to lớn cho hòa bình và tiến bộ chung của nhân loại. Sứ mệnh cao cả của Liên hợp quốc đã được nêu rõ ngay tại những dòng đầu tiên của Hiến chương, đó là: “quyết tâm cứu những thế hệ tương lai khỏi thảm họa chiến tranh đã hai lần trong đời gieo rắc đau thương không thể kể xiết cho nhân loại”.
Hơn 70 năm qua, có thể nói, Liên hợp quốc đã thực hiện thành công được sứ mệnh của mình, được cộng đồng quốc tế thừa nhận là tổ chức toàn cầu có uy tín cao, quy mô rộng lớn nhất, luôn giữ vai trò hàng đầu trong ngăn ngừa, giải quyết các cuộc xung đột, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, duy trì hòa bình và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên cả ba trụ cột: hòa bình - an ninh, phát triển và bảo đảm quyền con người. Bên cạnh đó, Liên hợp quốc đã đảm nhiệm ngày càng tốt hơn vai trò trung tâm trong xây dựng hệ thống các quy định, chuẩn mực của luật pháp quốc tế trên các lĩnh vực; thúc đẩy giải quyết các thách thức toàn cầu; các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân đạo; hỗ trợ phát triển cho các nước nghèo và kém phát triển.
2. Sự đồng hành của Việt Nam trong 40 năm gia nhập Liên hợp quốc
Ngay từ những ngày đầu lập nước, Việt Nam đã coi trọng và nhận thức rõ tầm quan trọng của Liên hợp quốc và bày tỏ nguyện vọng gia nhập tổ chức này. Điều đó đã được thể hiện qua bức điện văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa đầu tiên vào ngày 14-01-1946. Song, do hoàn cảnh lịch sử, phải đến ngày 20-9-1977 (hơn 30 năm sau), Việt Nam mới chính thức trở thành thành viên của Liên hợp quốc.
Tuy vậy, về thực chất, cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước của nhân dân ta chính là đóng góp có ý nghĩa nhất của Việt Nam cho sứ mệnh của Liên hợp quốc ngay từ lúc chưa là thành viên của tổ chức này. Bởi lẽ, cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta đã góp phần thực hiện các mục tiêu và lý tưởng cao cả của Liên hợp quốc là hòa bình, tôn trọng nguyên tắc bình đẳng, quyền tự quyết của các dân tộc, độc lập chủ quyền và tiến bộ xã hội.
Trong 40 năm qua, Việt Nam luôn nhận được sự hỗ trợ quý báu, hợp tác có hiệu quả của Liên hợp quốc đối với công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, góp phần giải quyết hậu quả chiến tranh và phá thế bao vây, cấm vận. Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự hợp tác trợ giúp về kỹ thuật, vốn, kinh nghiệm của Liên hợp quốc là một trong những nguồn lực quan trọng, giúp Việt Nam nâng cao năng lực thể chế luật pháp, cải cách hành chính, xóa đói giảm nghèo, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, v.v.
Về phần mình, kể từ khi gia nhập Liên hợp quốc, Việt Nam đã tham gia ngày càng sâu rộng, thực chất và trở thành một thành viên tích cực, có trách nhiệm, đối tác quan trọng của Liên hợp quốc; quan hệ hợp tác với Liên hợp quốc ngày càng mở rộng theo hướng thiết thực, hiệu quả và được thể hiện một cách khái quát ở một số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, chúng ta đã chủ động, tích cực tham gia các nỗ lực chung nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, đặc biệt là đề cao các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Qua đó, góp phần bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam. Việt Nam cũng tích cực tham gia đóng góp xây dựng các cơ chế hợp tác, luật lệ, chuẩn mực chung nhằm xây dựng các mối quan hệ quốc tế công bằng, bình đẳng, bảo đảm lợi ích chính đáng của các nước, nhất là các nước đang phát triển.
Thứ hai, Việt Nam đã được các nước, bạn bè tín nhiệm bầu vào nhiều vị trí, cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc và có nhiều đóng góp ý nghĩa tại các cơ quan này, như: Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016. Đặc biệt, từ năm 2014, Việt Nam đã cử lực lượng tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, thể hiện trách nhiệm của mình trong việc gìn giữ hòa bình, an ninh quốc tế.
Thứ ba, Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong quá trình hoạch định và triển khai chính sách của Liên hợp quốc về phát triển; trong đó, có việc thực hiện thành công trước thời hạn các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và quyết tâm thực hiện Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững và Thỏa thuận Pa-ri về biến đổi khí hậu toàn cầu. Việt Nam cũng tích cực thúc đẩy các sáng kiến cải tổ Liên hợp quốc, đặc biệt là quốc gia đi đầu triển khai sáng kiến “Thống nhất hành động” của Liên hợp quốc, nhằm tăng hiệu quả hoạt động của Liên hợp quốc ở cấp độ quốc gia.
Tựu chung lại, trong 40 năm đồng hành cùng Liên hợp quốc, Việt Nam đã đóng góp vào thành tích chung của công tác đối ngoại, đặc biệt đã góp phần bảo vệ - thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc, nhất là duy trì, củng cố môi trường hòa bình, an ninh và tạo thuận lợi cho phát triển đất nước; thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng hơn và góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế./
  PHẠM BÌNH MINH, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao


Thứ Ba, 15 tháng 8, 2017

Đằng sau chiêu trò “chính trị hóa” các vụ án hình sự

Một trong những chiêu trò mà các thế lực thù địch thường áp dụng khi thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” là “chính trị hóa” các vụ án hình sự. Từ những vụ án đơn lẻ, các thế lực thù địch thổi phồng, xuyên tạc, suy diễn lái vụ việc sang hướng khác rồi quy kết thành những vấn đề chính trị của từng quốc gia. Tình hình chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với Việt Nam thời gian gần đây càng cho thấy rõ điều đó.
Một điều chúng ta không khó để nhận ra trong thời gian qua là các thế lực thù địch cùng những phần tử cơ hội chính trị, phản động trong và ngoài nước đã “chính trị hóa” một số vụ án hình sự bằng cách đơm đặt, dựng chuyện, xuyên tạc, suy diễn, cắt khúc, gán ghép các tình tiết trong vụ án với những vấn đề chính trị hệ trọng của đất nước, nhất là những vấn đề nóng, nhạy cảm trong xã hội để lợi dụng kích động, chống phá. Chẳng hạn như sự việc ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Công an TP Hà Nội đã khởi tố vụ án hình sự để điều tra làm rõ về tội “Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật” theo Điều 123, Bộ luật Hình sự và tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Điều 143, Bộ luật Hình sự. Đây thực chất chỉ là một vụ án hình sự đơn lẻ, nhưng những kẻ “ăn không nói có” đã lượm lặt thông tin trên internet để nhào nặn rồi phán bừa rằng “vụ khởi tố này là bằng chứng cho thấy một sự đấu đá ở hậu trường”... Rõ ràng họ đã lợi dụng vụ án hình sự đơn thuần để đơm đặt rồi lái sang câu chuyện “đoàn kết nội bộ” trong Đảng, trong chính quyền... Mục tiêu sâu xa mà các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, phản động hướng tới không gì khác là gây ra sự hoài nghi trong nội bộ, phá hoại sự đồng thuận trong xã hội, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân.
Hay từ sự việc một số phần tử xấu ở các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh... núp dưới vỏ bọc “tôn giáo” lợi dụng sự cố môi trường ở các tỉnh miền Trung kích động, lôi kéo một bộ phận giáo dân tụ tập đông người, gây rối an ninh trật tự... Xét thấy có những yếu tố cấu thành tội phạm, cơ quan chức năng các địa phương đã khởi tố vụ án để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật. Thực chất đây chỉ là vụ án hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng”... Thế nhưng thông qua một số trang mạng ở nước ngoài, các thế lực thù địch, những phần tử phản động đã "chính trị hóa" vụ việc này rồi lái câu chuyện sang vấn đề "dân chủ, nhân quyền" và cho rằng “Việt Nam đàn áp tôn giáo”, “Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo”...
Tương tự mới đây là vụ Lê Duy Phong, Báo điện tử Giáo dục Việt Nam, bị Công an TP Yên Bái khởi tố, bắt tạm giam để điều tra về hành vi "lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản", theo Điều 280, Bộ luật Hình sự... Thế nhưng trên một vài trang mạng, một số phần tử phản động, có tư tưởng thù địch đã xuyên tạc, suy diễn, quy chụp theo kiểu lấy cái cụ thể để đánh giá, kết luận về cái tổng thể và cho rằng "Việt Nam vi phạm tự do báo chí", chính quyền Việt Nam "gài bẫy" để đưa các nhà báo chống tham nhũng vào vòng lao lý. Hơn thế, từ sự việc này họ còn suy diễn, xuyên tạc, bóp méo quan điểm của Đảng ta về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; xuyên tạc thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Không chỉ vậy, họ còn cho rằng: “Cuộc chiến chống tham nhũng là cuộc đấu đá phe cánh”, “tăng cường phòng, chống tham nhũng chỉ là chiêu trò mị dân”; có sự “bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng” của cấp ủy, chính quyền các cấp.... Nguy hiểm hơn, họ còn chụp mũ cho rằng tham nhũng thuộc về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là hệ quả của cơ chế lãnh đạo độc tôn.
Cần khẳng định một vài vụ việc nêu ra trên đây chỉ là những vụ án hình sự bình thường. Tuy nhiên, thông qua những bài viết trên một số trang mạng của những người có tư tưởng cực đoan, phản động đã xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo làm sai lệch bản chất vấn đề, hướng lái dư luận sang những vấn đề chính trị, xã hội hệ trọng khác như: Tự do tôn giáo, tự do báo chí, đoàn kết nội bộ... hòng triệt để khoét sâu từng vụ việc từ đó chống phá Đảng, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mục tiêu sâu xa của họ vẫn là nhằm phủ nhận những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trên các lĩnh vực, vẽ ra bức tranh méo mó về xã hội Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, để từ đó gieo rắc sự hoài nghi trong nhân dân về vai trò lãnh đạo của Đảng; về khả năng quản lý, điều hành của chính quyền, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa, để rồi thừa cơ xúi giục, kích động những người dân nhẹ dạ, cả tin đứng lên chống lại chính quyền, đòi thay đổi cương lĩnh, thể chế chính trị, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi chuyển xã hội ta sang một xã hội “đa nguyên, đa đảng”.
Từ những vấn đề lý luận chỉ ra và thực tiễn kiểm chứng, rõ ràng chúng ta không thể lấy hiện tượng để quy kết thành bản chất, không thể dùng cái đơn lẻ để quy thành hệ thống. Ấy vậy mà từ những vụ án hình sự đơn lẻ, các thế lực thù địch sẵn sàng suy diễn, gán ghép, quy chụp để từ đó đưa ra những nhận định về những vấn đề chính trị lớn trong xã hội, ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia, dân tộc. Chúng ta không lạ gì với chiêu trò này, bởi suy diễn, quy kết chủ quan, phiến diện trở thành thói quen, trở thành "căn bệnh" của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, phản động. Mọi sự việc, mọi vấn đề họ đều có thể suy diễn, chụp mũ miễn sao đạt được mục tiêu tuyên truyền xuyên tạc, nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.
Trong quá trình tồn tại và phát triển, bên cạnh những thành tựu, không một quốc gia, dân tộc nào không có những vấn đề phức tạp nảy sinh. Việt Nam không phải là ngoại lệ. Trong quá trình lãnh đạo, quản lý điều hành đất nước, bên cạnh những thành quả đạt được, Đảng và Nhà nước Việt Nam không phủ nhận trong xã hội đã và đang tồn tại những vấn đề nổi cộm. Để giải quyết những vấn đề đó nhằm củng cố niềm tin trong nhân dân, Đảng, Nhà nước đã, đang và sẽ tiếp tục triển khai nhiều biện pháp đồng bộ, quyết liệt; đồng thời cũng kiên quyết lên án, đấu tranh không để các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề ấy để tiến hành các chiêu trò nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam.
Bản chất của chiêu trò “chính trị hóa” các vụ án hình sự nhằm chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch ngày càng hiện rõ. Thực tế cho thấy các thế lực thù địch luôn tận dụng triệt để mọi cơ hội có thể để thực hiện chiêu trò "chính trị hóa" các vụ án hình sự. Cho dù chiêu trò đó phần nào chứng tỏ sự bất lực của các thế lực thù địch trước thực tiễn sinh động của đất nước Việt Nam, nhưng cần phải thấy rõ đây là một âm mưu chính trị và hoạt động chống phá hết sức nguy hiểm. Mỗi người Việt Nam chân chính ở cả trong và ngoài nước cần nhận thức rõ về chiêu trò này và kiên quyết lật tẩy, đấu tranh, phản bác. Mặt khác mọi người dân cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác, không ngộ nhận trước chiêu trò ấy, không tin vào luận điệu xuyên tạc, suy diễn, quy chụp của những phần tử cơ hội chính trị, phản động cực đoan; không tiếp tay cho các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

KIM THANH

Cảnh giác và kiên quyết đấu tranh loại bỏ những thông tin xấu độc nhằm vào cán bộ cấp cao của Quân đội nhân dân

Chống phá, làm giảm uy tín, vị thế của Quân đội ta luôn là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Một trong những thủ đoạn của họ là tạo thông tin giả mạo, mượn danh nghĩa người khác, mạo danh để bôi nhọ danh dự, uy tín của cán bộ cấp cao, nguyên là cán bộ cấp cao của Quân đội nhân dân Việt Nam. Cần cảnh giác, đấu tranh loại bỏ các loại thông tin rác rưởi này!
Bôi nhọ danh dự, hạ thấp uy tín của Quân đội, cán bộ quân đội là thủ đoạn không mới, nhưng gần đây lại xuất hiện với tần suất cao một cách bất bình thường. Mới đây, trên một số trang mạng “lề trái” xuất hiện bức thư được cho là của Thiếu tướng Huỳnh Hương (tức Huỳnh Đắc Hương), nguyên Cục trưởng Cục Tổ chức, Tổng cục Chính trị gửi Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ. Bức thư đề cập một số nội dung xuyên tạc, sai lệch, nhằm bôi nhọ danh dự, hạ uy tín của lãnh đạo Bộ Quốc phòng. Cơ quan chức năng đã gặp gỡ, trao đổi với Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương về nội dung liên quan đến bức thư. Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương khẳng định rằng: là thế hệ đi trước, cả đời theo cách mạng, sống, chiến đấu và trưởng thành trong môi trường Quân đội, tôi luôn tin tưởng Quân đội. Đến lúc cơ quan chức năng đưa bức thư ra thì Ông mới biết có bức thư như thế và khẳng định: đã lâu, không viết bất cứ bức thư nào và chữ ký ở bức thư đó là giả mạo chữ ký của Ông. Ông nhấn mạnh thêm, nay đã nhiều tuổi, sức khỏe giảm sút, mắt kém và không biết sử dụng in-tơ-nét. Ông bày tỏ mong muốn các cơ quan chức năng sớm tìm ra người viết bức thư đã giả mạo tên và chữ ký của mình. Như vậy, trắng đen đã rõ, người ta đã giả mạo tên Ông, hòng lợi dụng uy tín cá nhân Ông để nói xấu lãnh đạo Bộ Quốc phòng.
Trò giả mạo chữ ký cán bộ cấp cao của Quân đội đã nghỉ hưu để “tham gia”, hoặc bày tỏ thái độ “băn khoăn” trước tình hình đất nước, những vấn đề nảy sinh trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc dưới dạng “thư ngỏ” hay “kiến nghị” gửi lãnh đạo Đảng, Nhà nước là một thủ đoạn hèn hạ của những kẻ thù địch đối với Việt Nam. Thủ đoạn này không phải là mới, trước đây, chúng đã từng làm. Nhưng điểm khác là ở chỗ, những “thư ngỏ”, “kiến nghị” trước, có nhiều người cùng ký tên, còn nay chỉ cần một người có tên tuổi, uy tín và Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương được họ lựa chọn để giả mạo là như vậy. Phải chăng họ làm việc vô đạo đức này là do nắm bắt được tâm lý của nhân dân luôn tin tưởng vào bản chất, truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” - Bộ đội của dân? Đặc biệt nếu có tên của những cán bộ cao cấp trong Quân đội, nhất là cán bộ cấp tướng có uy tín thì rõ ràng càng tăng thêm sức nặng của “thư ngỏ”, “kiến nghị”. Thông qua việc mạo danh để xuyên tạc, nói xấu cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội, họ hòng đánh lừa dư luận, thực chất là mê hoặc, “đánh cắp” niềm tin của nhân dân vào cán bộ của Đảng, Quân đội, tạo tâm lý hoài nghi, giao động, thiếu tin tưởng vào Đảng, Nhà nước và Quân đội, làm nóng dư luận xã hội. Đáng tiếc là một số ít người do thiếu thông tin chính thống nên đã nhẹ dạ, cả tin vào những thông tin xấu độc đó, gây ảnh hưởng không tốt trong dư luận xã hội. Tuy nhiên, sự thật luôn là sự thật, sự thật là chân lý lịch sử. Những kẻ dùng trò xuyên tạc sự thật chỉ có thể lừa bịp được một số người trong thời điểm nhất định, còn về lâu dài vẫn sẽ là “trắng ra trắng, đen ra đen”, không thể “đồng thau lẫn lộn” mãi được.
Lịch sử đã phát xét những hành động “ngậm máu phun người”, “ném đá giấu tay” của kẻ tiểu nhân, vô đạo đức, bất chấp mọi thủ đoạn hòng đạt được mục đích chính trị. Những kẻ nêu ở trên lại đang theo vết xe đổ đó, cố tình vi phạm pháp luật, cần phải lên án, nghiêm trị.
Nhân đây cũng cần nói rõ thêm, trong lịch sử của Quân đội ta từ cán bộ quân sự chuyển sang làm cán bộ chính trị, hoặc từ cán bộ chính trị sang làm cán bộ quân sự không phải không có tiền lệ. Điều đó diễn ra ở mọi cấp của các đơn vị quân đội, từ đơn vị cơ sở đến cấp chiến lược. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ và phẩm chất, năng lực của mỗi người, thì việc luân chuyển cán bộ để họ được khẳng định khả năng của mình trên các lĩnh vực công tác ở các cấp trong toàn quân được làm thường xuyên, tiến hành theo đúng nguyên tắc, quy chế, quy trình công tác cán bộ, những ai trong quân ngũ đều thấy rõ điều đó. Ở cấp chiến dịch, chiến lược gần đây, là Đồng chí Lê Văn Dũng từ Tư lệnh Quân khu 7 (năm 1995 - 1998) trở thành Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (năm 1998) và trở thành Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng (năm 1998 - 2001) sang làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (năm 2001 đến năm 2011) và được thăng hàm Đại tướng năm 2007. Đồng chí Phương Minh Hòa từ Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân (năm 2005) sang làm Tư lệnh Quân chủng này (năm 2010), trở thành Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam năm 2015 và được thăng hàm Thượng tướng. Không ít đồng chí từ cán bộ lực lượng vũ trang phát triển thành cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội. Đó là trường hợp Đại tướng Lê Đức Anh từ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Đại tướng Trần Đại Quang từ Bộ trưởng Bộ Công an trở thành Chủ tịch nước thứ tư và thứ tám của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thượng tướng Lê Khả Phiêu từ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam từ 1991 - 1997, trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1997 - 2001, v.v. 
Ngược dòng lịch sử của dân tộc cho thấy, thế hệ cán bộ đầu tiên của cách mạng nước ta đâu có được đào tạo cơ bản qua trường lớp chính quy, phần lớn chỉ qua các lớp bồi dưỡng ngắn ngày, thế mà lãnh đạo nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám (năm 1945) vĩ đại. Tiếp đó, các thế hệ cán bộ trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược tuy được đào tạo qua trường lớp có khá hơn trước, nhưng không thật nhiều, vậy mà đã cùng với nhân dân ta, dân tộc ta làm nên những chiến thắng vĩ đại, như:  Điện Biên Phủ năm 1954, Đại thắng mùa Xuân 1975, hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. “Thời thế tạo anh hùng”, trong thời kỳ này, nhiều cán bộ quân đội đã trở thành tướng lĩnh tài ba. Vị Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân dân - Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một điển hình. Đại tướng xuất thân từ thầy giáo dạy lịch sử, chứ đâu có phải là nhà quân sự, nhưng khi được Bác Hồ cử sang phụ trách Quân đội ta với tài năng thiên bẩm và trải nghiệm thực tiễn cách mạng phong phú Đồng chí đã trở thành vị tướng mưu lược, quyết đoán, chỉ huy toàn quân đánh bại những tên thực dân, đế quốc sừng sỏ nhất là Pháp và Mỹ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở thành huyền thoại và là người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, vị tướng có uy tín, tầm ảnh hưởng lớn đối với nhân dân ta và bạn bè trên thế giới. Nói vậy để thấy rằng, học qua trường lớp là điều rất quan trọng, nhưng nhường thế là chưa đủ mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, nhất là khả năng tư duy, tự nghiên cứu, học tập, rèn luyện theo cương vị công tác của mỗi người. Hay nói cách khác, dù được đào tạo cơ bản, nhưng thiếu tư duy chiến lược, tầm nhìn hạn chế thì người đó khó mà lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn hiệu quả. Trên thế giới cũng như ở nước ta cho đến nay chưa có, đúng hơn không nhất thiết phải có trường lớp đào tạo người chủ trì cho một ngành, một lĩnh vực hay đào tạo nguyên thủ quốc gia. Thực tế chỉ có các trung tâm đào tạo cán bộ cấp chiến lược, trong số đó có người sau khi đào tạo, công tác, phát triển thành cán bộ chủ trì một ngành, một lĩnh vực và số rất ít là nguyên thủ quốc gia. Điều khẳng định, việc sắp xếp, bố trí sử dụng cán bộ chiến lược của Đảng ta được thực hiện chặt chẽ, cẩn trọng theo quy trình, quy định nghiêm ngặt, thống nhất, tập thể cấp ủy thảo luận, xem xét toàn diện, nhiều chiều để lựa chọn cán bộ một cách chính xác nhất vào từng vị trí. Về tổng thể, không có chuyện bố trí, sắp xếp cán bộ một cách tùy tiện, thiếu căn cứ. Vậy nên, việc có ý kiến không đồng tình với quyết định của Bộ Chính trị phân công một cán bộ nào đó đảm nhiệm chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị, nhất là vị trí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là hoàn toàn không có cơ sở.
Việc có “bức thư” mạo danh Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương để nói một số vấn đề về Bộ trưởng Bộ Quốc phòng được lan truyền trên không gian mạng thời gian qua cũng nằm trong “kịch bản” chống phá Quân đội đã được dàn dựng, chuẩn bị từ trước. Hẳn mọi người không lạ gì thủ đoạn đê hèn đó. Bởi, mưu đồ sâu xa của chúng là chống Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa. Mà muốn làm được điều đó thì việc chống phá Quân đội được chúng xác định là mục tiêu quan trọng hàng đầu, nhằm chia rẽ Đảng với Quân đội, tạo mâu thuẫn nội bộ, chia rẽ tình cảm quân - dân, gây tâm lý hoài nghi, thiếu tin tưởng của cán bộ, chiến sĩ vào lãnh đạo Bộ Quốc phòng, làm suy yếu sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta.
Vì vậy, cần phải cảnh giác và kiên quyết đấu tranh loại bỏ loại thông tin thất thiệt, xấu độc này, nhằm giữ vững uy tín, hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân./.

                                                                 NGUYỄN PHÚ HƯNG

Thứ Ba, 20 tháng 6, 2017

HỒ CHÍ MINH - TẤM GƯƠNG MẪU MỰC VỀ TỰ HỌC VÀ HỌC SUỐT ĐỜI

Tự học và học tập suốt đời là luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục. Người cũng là tấm gương sáng về tinh thần suốt đời bền bỉ và khiêm tốn học hỏi. Khi nói về tự học, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ làm sáng rõ mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung của việc mà còn định hướng cho chúng ta về phương pháp học tập.
Một là, học thường xuyên, lấy tự học làm cốt
Trong 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước và hoạt động ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã trải qua nhiều công việc vất vả, khó khăn nhưng Người luôn tự tìm tòi, tự học tập, nghiên cứu. Nhờ thế, Người trở thành một người lao động chân chính, hội tụ phẩm chất, tâm hồn của chiến sỹ cộng sản, trong đó có vượt khó và vượt khó trong học tập. Người luôn tranh thủ thời gian để học tập; lao động “để lấy tiền mà đi học”. Người tự học ngoại ngữ để tiếp cận tri thức, tinh hoa của nhân loại và để hoạt động cách mạng. Với vốn tiếng Pháp trau dồi được tại trường Tiểu học Pháp - Việt, trong những ngày tháng bôn ba, Người tiếp tục tự học tiếng Pháp. Người tự học nói và học viết. Người vừa đi vừa học, vừa làm vừa học. Sau đó, Người sang Anh, dù phải làm các công việc khác nhau như cào tuyết, đốt lò, bồi bàn... hết sức vất vả, “hàng ngày, buổi sáng sớm và buổi chiều, anh Ba ngồi trong vườn hoa Haiđơ (Hyde), tay cầm một quyển sách và một cái bút chì. Hàng tuần vào ngày nghỉ, anh đi học tiếng Anh với một giáo sư người Ý”. Với sự siêng năng và phương pháp học tập khoa học, Người nhanh chóng thành thạo nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Năm 1935, trong tờ khai lý lịch của đại biểu tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, Người ghi: Biết các thứ tiếng Pháp, Anh, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga... Thực ra, danh mục ngoại ngữ mà Người nắm vững còn nhiều hơn thế. Tất cả là nhờ ý chí tự học và sự siêng năng.
Là chiến sỹ cộng sản, hiểu rõ tầm quan trọng của báo chí trong việc tuyên truyền cách mạng, Hồ Chí Minh đã làm báo, viết báo. Lúc đầu, Người viết ngắn, mỗi tin chỉ năm ba dòng, dần dần Người kéo dài tin thành cả cột báo. Sau khi đã viết được dài thì Người lại học cách viết rút ngắn lại sao cho thật rõ, thật gọn, thật hấp dẫn. Từ viết báo, Người chuyển sang viết truyện, viết kịch... Hồ Chí Minh khẳng định: “Không sợ khó, có quyết tâm. Không biết thì phải cố gắng học, mà cố gắng học thì nhất định học được”. Nhờ tinh thần đó, bên cạnh sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Người còn để lại một di sản lớn các tác phẩm báo chí và văn học. Trong đó, không ít tác phẩm viết bằng tiếng nước ngoài. Đó là kết quả của việc không ngừng học hỏi, tự học tập của Người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải chịu khó học tập, không ngừng nỗ lực để chiếm lĩnh tri thức. Người căn dặn: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học, phải học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học hỏi ở nhân dân”. Người nói: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời... Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Ai muốn “vừa hồng vừa chuyên” đều phải cần cù học tập. Đặc biệt, “người cách mạng phải học suốt đời, học lý luận, học quần chúng, học thực tế”. Có như vậy, cán bộ mới có đủ tri thức và năng lực thực hành. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), khi bàn về công tác huấn luyện cán bộ, Hồ Chí Minh đã có chỉ dẫn: “Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”. Người dạy thêm: “Sắp xếp thời gian và bài học phải cho khéo, phải có mạch lạc với nhau”. Khi nói về Công tác huấn luyện và học tập (1950), Người nhấn mạnh: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”. Người yêu cầu trong học tập phải tự giác, “Không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập”. Tự học chính là sự nỗ lực của bản thân người học một cách có kế hoạch, trên tinh thần tự giác học tập.
Hai là, học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn
Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu “học đi đôi với hành”. Người nhấn mạnh: “Không vào hang không bắt được cọp. Không thực hành thì nhất định không thể hiểu biết”. Khi nói chuyện với học viên Trường Thanh niên Lao động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình, Hồ Chí Minh kể lại: “Trước đây lúc tuổi thanh niên, Bác hoạt động ở Pháp, cũng vừa lao động, vừa học tập, nhưng lúc đó lao động là lao động nô lệ cho đế quốc. Bác phải làm thế để tự kiếm sống, nhưng vẫn dành thời giờ để học tập, ngày lao động, đêm học tập, chứ Bác không được đến trường học đâu. Vì vậy, Bác khuyên mọi người học tập tốt, lao động tốt để trở thành người lao động xã hội chủ nghĩa”. Người khẳng định, học để sửa chữa tư tưởng, học để tu dưỡng đạo đức cách mạng, học để tin tưởng, học để hành. Bàn về tầm quan trọng của việc học đi đôi với hành, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Một người học xong đại học, có thể gọi là trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”. Người còn giải thích: “Do thực hành mà sinh ra hiểu biết. Lại do thực hành mà chứng thực và phát triển sự thật. Từ hiểu biết bằng cảm giác tiến lên hiểu biết bằng lý trí. Lại từ hiểu biết bằng lý trí tiến lên thực hành lãnh đạo cách mạng, cải tạo thế giới. Thực hành, hiểu biết, lại thực hành, lại hiểu biết nữa. Cứ đi vòng như thế mãi, không bao giờ ngừng”. Muốn giỏi đòi hỏi phải gắn học với hành, học để vận dụng sáng tạo vào trong thực tế công tác, trong cuộc sống, học để ứng xử với bản thân, với mọi người, với thực tế cuộc sống, để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Vì thế, Người luôn nhắc nhở rằng, làm nghề gì cũng phải học và phải ham học, học trong công việc hằng ngày, trong việc lớn cũng như việc nhỏ, việc cao cũng như việc thấp. Người khẳng định, học cốt để làm, học mà không làm, học mấy cũng không tác dụng, học mấy cũng vô ích; học cốt để áp dụng vào công việc thực tế, lý thuyết mà không áp dụng vào thực tế là lý thuyết suông; chỉ học thuộc lòng lý thuyết để đem lòe thiên hạ thì lý thuyết ấy cũng vô ích, mà phải vừa học, vừa làm, học tập tốt.
Đồng thời, Hồ Chí Minh chỉ rõ tầm quan trọng của lý luận đối với hoạt động thực tiễn: “Học để mà hành. Học với hành phải đi đôi. Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”. Người nhấn mạnh: “Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận. Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên”. Từ đó, Người kết luận: “Vì vậy, chúng ta phải cố gắng học, đồng thời học thì phải hành”. Hồ Chí Minh coi lời dạy của V.I.Lênin: Học, học nữa, học mãi và lời dạy của Khổng Tử: Học không biết chán, dạy không biết mỏi là phương châm học tập của mình.
Ba là, học qua tổng kết, đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn, học trong công việc
Ở cương vị đứng đầu Đảng và Nhà nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở mọi người học lý luận đồng thời học trong thực tiễn. Người giải thích: Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng, rõ ràng, làm thành kết luận, rồi đem nó chứng minh với thực tế. Vì thế, Hồ Chí Minh yêu cầu mọi người phải vừa học, vừa làm, học để áp dụng vào thực tiễn công tác. Trong lúc học lý thuyết phải nghiên cứu công việc thực tế. Người nhấn mạnh, thời kỳ học ở nhà trường chưa thể cung cấp những kiến thức đầy đủ và sâu rộng; nó mới chỉ giúp ta được những điều căn bản, định rõ cho ta một phương hướng đi cho khỏi lầm đường và gợi cho ta lòng ham muốn nghiên cứu. Còn sau khi ra trường làm việc, phải nghiên cứu không những trong sách vở, mà còn phải nghiên cứu ngay trong thực tiễn công tác của mình, phải vừa làm, vừa học. Bác Hồ khuyên mọi người: “Học trong xã hội, học nơi công tác thực tế, học ở quần chúng”.
Bốn là, xác định rõ mục đích học tập
Mục đích của việc học là để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, “Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh chỉ rõ, “Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”. Do đó, việc học phải diễn ra liên tục. Ngày 21-7-1956, nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Người căn dặn: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”.
Năm là, đọc sâu hiểu kỹ từng vấn đề
Phương pháp đọc sách, báo của Hồ Chí Minh là: đọc cho rộng, có ghi chép, phân loại các thông tin. Hồ Chí Minh thường xuyên đọc sách, báo. Hằng ngày, Người đều theo dõi báo chí, đánh dấu vào những chỗ đọc thấy cần thiết; tiếp theo khi đọc luôn phải suy nghĩ kỹ càng; cuối cùng và cũng là bài học quan trọng nhất là áp dụng những điều đã đọc vào thực thực tế công việc và cuộc sống. Với những vấn đề quan trọng, có những từ hoặc vấn đề không hiểu, điều tra kỹ lưỡng cho đến đến khi hiểu cặn kẽ mới thôi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về tinh thần tự học, lấy tự học làm cốt, làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ mọi mặt của bản thân. Tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một triết lý nhân văn sâu sắc với một kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, khoa học; với một ý chí và quyết tâm bền bỉ, dẻo dai, tinh thần sáng tạo, tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học. Tấm gương sáng của Người là nguồn cổ vũ, nguồn cảm hứng vô tận cho mỗi người Việt Nam xây dựng xã hội học tập hiện nay.
Lê Thị Thúy Hương,
Trần Thị Ngọc
Trường Đại học Cần Thơ



TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

                Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới; là một trong những vĩ nhân đầu tiên của thế kỷ XX đã đóng góp to lớn vào giải quyết các vấn đề về quyền con người và Người đã trọn đời đấu tranh giải pháp dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
               Tư tưởng và cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi và phong phú, hết lòng vì nước, vì dân của Hồ Chí Minh là di sản quý báu đối với dân tộc ta và đóng góp vào lý luận Mác - Lênin và di sản văn hóa nhân loại. Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về quyền con người có nội dung phong phú và sâu sắc. Tư tưởng nhân quyền của Người là kim chỉ nam về lý luận và thực tiễn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong suốt hơn tám thập niên qua và hiện nay đang tiếp tục soi đường cho sự nghiệp đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh của nhân dân ta giành thắng lợi.
                Người đã chỉ ra rằng, quyền con người chỉ có được thông qua đấu tranh cách mạng chống áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc và đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quyền con người gắn liền với quyền dân tộc, với độc lập chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ.
                 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người có quá trình hình thành và phát triển, gắn với hoạt động thực tiễn phong phú và nghiên cứu thấu đáo lý luận của Hồ Chí Minh, xuất phát từ những giá trị nhân văn Việt Nam truyền thống và các giá trị thời đại, phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam.
                  Quan điểm của Hồ Chí Minh về quyền con người
                Quyền con người là một giá trị phổ quát và là vấn đề có tính lịch sử dài lâu cả về phương diện thực tiễn cũng như lý luận. Quyền con người có nội dung rất phong phú, có tính chất nhạy cảm, phức tạp. Và càng phức tạp hơn khi nó gắn với các chế độ chính trị khác nhau. Do các lát cắt tiếp cận đa dạng, vấn đề quyền con người thường có những nhận thức khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Hồ Chí Minh tiếp cận vấn đề quyền con người xuất phát từ truyền thống dân tộc Việt Nam và từ bối cảnh thực tiễn cụ thể của đất nước, đồng thời kế thừa có chọn lọc những nội dung hợp lý của tư tưởng nhân quyền hiện đại. Trên cơ sở đó, Người đã đưa ra những luận điểm mới, sâu sắc và toàn diện về quyền con người, phù hợp với đặc điểm của tình hình cụ thể ở Việt Nam và thời đại mới.
                 Từ đặc điểm của dân tộc đang bị mất độc lập, bị áp bức bóc lột nặng nề dưới chế độ đế quốc thực dân và địa chủ phong kiến tay sai, mọi quyền sống của con người cũng như quyền dân tộc đều bị xóa bỏ. Vì vậy, vấn đề quyền con người ở Việt Nam chỉ có thể được giải quyết thông qua cuộc cách mạng để giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam. Đó là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến tay sai, chỗ dựa cho bộ máy thống trị và bóc lột của chủ nghĩa thực dân Pháp. Đấu tranh giành độc lập dân tộc phải gắn chặt với đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ. Đó là yêu cầu của thực tiễn Việt Nam đặt ra, cách mạng cần giải quyết, có giải quyết được yêu cầu này thì quyền con người mới được bảo đảm.
                  Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người bắt nguồn từ lịch sử dân tộc và thực tiễn của đất nước, kế thừa có chọn lọc những tư tưởng nhân quyền tiến bộ của phương Đông cũng như phương Tây. Đặc biệt là vận dụng sáng tạo tư tưởng giải phóng con người và xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là đặc điểm nổi bật trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về quyền con người.
Với ý chí kiên cường, Hồ Chí Minh đã lên đường bôn ba tìm đường cứu nước. Trải qua những tháng năm khảo sát thực tế cuộc sống nhiều quốc gia, tìm hiểu về những gì ẩn chứa sau những từ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, xem các giá trị cao quý đó được thực thi ở “mẫu quốc” và tại các nước, các thuộc địa như thế nào. Người đã đến trung tâm của chủ nghĩa thực dân để xem cái “hào nhoáng” của những nền “văn minh với sứ mệnh khai hóa”. Người đã dày công nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản và các nhà tư tưởng tiến bộ khác đồng thời đã tìm thấy ở Tuyên ngôn Nhân quyền, Dân quyền của cách mạng Pháp (1789) và Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776) những “quyền bất khả xâm phạm” của con người. Năm 1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam, Người gửi “Bản yêu sách của dân tộc Việt Nam gửi đến Hội nghị Véc xay (Pháp). “Bản yêu sách” gồm 8 điểm rất ôn hòa, yêu cầu Chính phủ Pháp trao trả một số quyền tự do, dân chủ tối thiểu và cơ bản cho dân Việt Nam, cũng như các dân tộc ở Đông Dương… Nhưng những yêu sách đó của Nguyễn Ái Quốc đều không được đại diện các nước tham gia Hội nghị Véc xay quan tâm. Thực tế đó, giúp Người ngày càng nhận rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc thực dân và rút ra kết luận quan trọng rằng: Muốn được giải phóng các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào lực lượng của bản thân mình và phải thông qua cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ. Đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là tiền đề, là điều kiện giành lấy và thực hiện quyền của con người. Đây là một vấn đề mới về lý luận và chính trị.
Những nội dung cơ bản trong quan điểm  Hồ Chí Minh về quyền con người
                  Một là, Hồ Chí Minh quan niệm quyền của mỗi người gắn chặt và không tách rời với quyền của dân tộc, do đó Người đã đấu tranh đòi quyền con người cho cả dân tộc, quyền tự quyết, quyền bình đẳng dân tộc. Không dừng lại ở đó, Người đã đòi quyền cho tất cả các dân tộc đang bị áp bức bóc lột trên thế giới. Đây là sự phát triển, khái quát cao, đem lại những nội dung mới về quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh thời đại mới. Điều này đã được thể hiện rõ trong Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam do Người trực tiếp soạn thảo và tuyên đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong đó, Người khẳng định một chân lý của thời đại mới đó là: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Như vậy, từ những quyền cơ bản của con người được mở rộng thành quyền dân tộc và gắn chặt quyền con người với độc lập dân tộc, quyền tự quyết dân tộc là một cống hiến lý luận của Hồ Chí Minh vào kho tàng tư tưởng nhân quyền của nhân loại.
                      Hai là, Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh đòi quyền cho con người, mà Người còn nhấn mạnh tới quyền làm người. Bởi vì, quyền con người không chỉ cần ăn, mặc, ở, đi lại để tồn tại mà còn vươn lên trên cái tồn tại để hoàn thiện và phát triển bản thân. Đó chính là quyền học tập, sáng tạo, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền tự do, quyền dân sự, quyền về chính trị, kinh tế - văn hóa xã hội, cũng như quyền của các nhóm người đặc biệt trong xã hội như: quyền các dân tộc thiểu số, quyền phụ nữ, quyền của trẻ em, quyền của nhóm người có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn cần được xã hội quan tâm, tạo điều kiện, giúp đỡ để họ hòa nhập với cộng đồng xã hội.
Quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc mà Người còn bàn tới quyền làm chủ, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền được pháp luật bảo vệ, quyền đi lại, quyền cư trú, quyền công dân, quyền hôn nhân và xây dựng gia đình, quyền sỡ hữu tài sản, quyền tư do tư tưởng, quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo.
Như vậy, có thể thấy nội dung quyền con người trong tư tưởng của Hồ Chí Minh được phát triển rất phong phú cả về bề rộng và chiều sâu, tạo ra một hệ thống về quyền con người theo quan điểm khoa học và cách mạng. 
                    Ba là, Hồ Chí Minh triệt để thực hiện giữa nói và làm. Sự thống nhất giữa tư tưởng và hành vi, giữa lý luận và thực tiễn, giữa động cơ và hiệu quả đã trở thành đặc trưng nổi bật của Hồ Chí Minh so các nhà tư tưởng, các lãnh tụ khác. Người là tấm gương sáng, trọn vẹn về nhân quyền và cuộc đấu tranh cho quyền con người.
                   Người khẳng định rõ: Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao nước ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có căm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Hồ Chí Minh khẳng định: Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo là vì mục đích đó. Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề con người và giải phóng con người, coi đó là mục đích cao nhất cần đạt tới trong mọi hoạt động cách mạng của mình.
Trong suốt cuộc đời, Hồ Chí Minh đã dồn hết tâm lực, trí tuệ để lãnh đạo nhân dân giành độc lập cho dân tộc, giành quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng, phát triển đất nước để mang lại hạnh phúc và quyền làm người cho toàn dân, làm cho Việt Nam trở nên giàu mạnh, hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu…
                     Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ mục tiêu của nước ta là: “1. Làm cho dân có ăn. 2. Làm cho dân có mặc. 3. Làm cho dân có chỗ ở. 4. Làm cho dân có học hành”. Người luôn tâm niệm, nước được độc lập mà dân không được hưởng tự do, dân vẫn cứ đói, rét thì độc lập ấy chẳng có ý nghĩa gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ.
                      Chính vì lẽ đó, Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên không bao giờ được quên “dân là chủ”. Với quan niệm trên, trong chế độ mới, giá trị cao nhất của độc lập dân tộc là đem lại quyền làm chủ thực sự cho người dân, phải trao lại cho dân mọi quyền hành. Dân là chủ, nghĩa là trong xã hội nhân dân là người chủ của nước, nước là nước của nhân dân. Các cơ quan Đảng và Nhà nước là tổ chức được dân ủy thác làm công bộc phục vụ cho nhân dân. Nhiệm vụ của chính quyền dân chủ là phục vụ nhân dân, cán bộ, đảng viên là đầy tớ của dân. Là đầy tớ, là công bộc của dân, vì lợi ích chung mà gánh vác việc dân, phải trung thành và tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân. Cán bộ phải như những người lính vâng mệnh quốc dân mà thi hành nhiệm vụ, thay mặt dân để ra quyết định, phải toàn tâm, toàn ý phục vụ đất nước phục vụ nhân dân. Người nhấn mạnh: Đảng không có mục tiêu nào khác là đem lại lợi ích cho dân. 
                      Hiểu rất rõ giá trị của quyền con người và quyền làm người, ngay khi cách mạng thành công, chỉ sau một ngày Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 3-9-1945), Người chỉ ra 6 nhiệm vụ cấp bách trong đó có nhiệm vụ ban hành hiến pháp để bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân và đề nghị tổ chức sớm nhất cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái đủ 18 tuổi trở lên đều được quyền ứng cử và bầu cử theo luật định không phân biệt giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo và giống nòi.
Bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử dân tộc ta do Người trực tiếp làm trưởng ban soạn thảo đã được Quốc hội thông qua ngày 9-11-1946. Ngay trong lời nói đầu đã xác định: “bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân” là một trong những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp. Trong bản Hiến pháp năm 1946 đã giành cả chương II nói về “quyền lợi và nghĩa vụ công dân” gồm 18 điều cụ thể quy định các quyền dân sự, chính trị cũng như các quyền về kinh tế, văn hóa và xã hội…
Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng hệ thống quyền con người ở nước ta ngày càng mở rộng và được quán triệt ngày càng đầy đủ trong các bản Hiến pháp năm 1959, 1982, 1992 và năm 2013 cũng như trong chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là vấn đề lớn với một nội dung rất rộng, toàn diện và sâu sắc. Ngày nay, tư tưởng quyền con người của Người được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang tiếp tục quán triệt và vận dụng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội; nhất là trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đảng ta khẳng định quan điểm nhất quán: “Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người”; con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân. Đại hội XII xác định: Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách bảo vệ và bảo đảm thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân, theo phương hướng: Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta ký kết.
                    Quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một vấn đề lớn, có nội dung phong phú, đặc sắc. Quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc mà còn bao gồm cả quyền làm chủ, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền được pháp luật bảo vệ, quyền đi lại, quyền cư trú, quyền công dân, quyền hôn nhân và xây dựng gia đình, quyền sỡ hữu tài sản, quyền tư do tư tưởng, quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Cả cuộc đời Người đấu tranh vì thực hiện quyền con người.
                   Để hiện thực hóa  các quyền con người, cần các điều kiện tiền đề phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm các quyền có việc làm, ăn, ở, mặc, đi lại, học hành, nghỉ ngơi, chữa bệnh, chăm sóc người già, trẻ em, phụ nữ,... cải thiện ngày một tốt hơn đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân.
Chế độ kinh tế và xã hội xã hội chủ nghĩa, theo Người chính là “nhằm thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân” là làm cho dân giàu, nước mạnh, làm cho “mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”, là công bằng, hợp lý. Xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động chính là thực hiện trên thực tế sự nghiệp giải phóng con người theo lý tưởng nhân văn tiến bộ của nhân loại. Đó vừa là mục tiêu, đồng thời cũng là động lực phát triển của xã hội Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
                                                                             ThS Đào Văn Quang

Thứ Ba, 13 tháng 6, 2017

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THAM NHŨNG

                 Tham nhũng là một hiện tượng xã hội, gắn liền với sự ra đời, hoạt động của nhà nước. Đây là thứ tệ nạn đặc biệt nguy hiểm, được ví như “quốc nạn”, “giặc nội xâm”, gây hậu quả to lớn đối với đời sống xã hội, thậm chí sự mất còn của chế độ và Tổ quốc. Bởi vậy, phòng, chống tham nhũng được Đảng ta xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, thể hiện quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.
                 Tham nhũng và phòng, chống tham nhũng là một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, đó là mối quan tâm thường xuyên của Người trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập đến tham nhũng, tác hại của nó và cách phòng, chống. Người coi tham nhũng là có tội với dân, với nước, nguy hiểm như bọn việt gian bán nước, cần phải nghiêm trị thích đáng. Tư tưởng, tấm gương về phòng, chống tham nhũng của Bác mãi mãi là biểu tượng sinh động về đạo đức cách mạng, nhân cách của một người hết lòng vì dân, vì nước. Những lời dạy của Người vừa sâu sắc, toàn diện, vừa có tính khái quát, cụ thể, dễ hiểu và là kim chỉ nam trong cuộc đấu tranh với tệ nạn tham nhũng trước đây cũng như hiện nay.
                    Khi đề cập về tham ô (tham nhũng) Bác khẳng định: “Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công làm của tư; Đục khoét của nhân dân; Ăn bớt của bộ đội; Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình. Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”1. Như vậy, chủ thể của hành vi tham ô là cán bộ, công chức - những người nắm chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước, nhưng cũng có thể người dân bình thường nếu “ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”. Biểu hiện của hành vi tham ô là biến “của công” thành “của tư”. “Của công” ở đây chính là tài sản của nhân dân, do nhân dân đóng góp, phục vụ mục đích chung: giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. “Của công” thành “của tư” tức là tài sản chung nhưng không được sử dụng đúng mục đích, mà thực chất bị chiếm dụng thành của riêng, quỹ riêng của cá nhân, tập thể, địa phương. Một trong những biểu hiện tham nhũng nữa mà Bác chỉ ra là, một số cán bộ được Chính phủ và nhân dân trả lương hằng tháng, nhưng lại kém lòng trách nhiệm, đứng núi này trông núi nọ, làm việc chậm chạp, ăn cắp giờ, v.v. Đây là hình thức tham ô tuy không gây hậu quả nghiêm trọng ngay, nhưng nếu xảy ra hằng ngày, liên tục sẽ làm giảm chất lượng, hiệu quả công việc, ảnh hưởng đến hoạt động của bộ máy công quyền, hiệu lực quản lý của nhà nước và đó là mối nguy hại lớn đối với sự nghiệp cách mạng. Bác Hồ chỉ rõ : “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng”; là hành động xấu xa nhất, tội lỗi nhất trong xã hội, nó làm hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà, hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân, hại đến đạo đức cách mạng của cán bộ và công nhân. Trong khi chiến sỹ thì hy sinh xương máu, đồng bào thì hy sinh mồ hôi nước mắt để đóng góp công sức vào bảo vệ và kiến thiết nước nhà, mà những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của chính phủ và của nhân dân vào mục đích riêng. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội Việt gian mật thám, là “kẻ địch”, là “giặc nội xâm”, hoặc ngang hàng với “kẻ phản quốc”, v.v.
                     Tác hại do tham nhũng gây ra cực kỳ lớn. Nó không những làm thiệt hại về kinh tế mà còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ; làm rối loạn kỷ cương pháp luật, hư hỏng cán bộ, triệt tiêu động lực cơ bản nhất của sự phát triển. Hồ Chí Minh khẳng định: “Tham nhũng là kẻ thù nguy hiểm của nhân dân, của bộ đội và của chính phủ…, vì nó không mang gươm, mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta để làm hỏng công việc của ta… Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng ta là cần- kiệm - liêm - chính”2. Về nguyên nhân, nguồn gốc và điều kiện phát sinh tham nhũng, Người cho rằng, về khách quan thì tham ô là căn bệnh “tứ chứng nan y” của mọi nhà nước. Dù bất kỳ nhà nước nào (phong kiến, tư bản hay  xã hội chủ nghĩa), nếu không có sự giáo dục sâu sắc, kỷ cương, pháp luật nghiêm minh, mọi hoạt động của nhà nước không được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của nhân dân thì khó tránh khỏi tình trạng tham ô của cải nhà nước dùng vào lợi ích cá nhân, hoặc một nhóm người. Những người có chức có quyền, dù to hay nhỏ đều có điều kiện để tham nhũng, nếu như tâm không sáng, lòng không trong thì khi có cơ hội là họ thực hiện hành vi tham nhũng. Bởi theo Bác, những người trong các công sở, từ làng cho đến Chính phủ Trung ương đều có nhiều hoặc ít quyền hành, đều có dịp phát tài hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc đục khoét nhân dân. Nếu không giữ cần, kiệm, liêm, chính, chí công, thì trở nên hủ hoá, biến thành sâu mọt của nhân dân. 
                     Về chủ quan, do cán bộ, công chức “vì thiếu đạo đức cách mạng, vì cá nhân chủ nghĩa mà sinh tham ô”, Người nói: “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí”3; rằng: “Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích cách mạng, của nhân dân. Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”4. Người còn chỉ rõ, có tham ô là vì bệnh quan liêu, đó chính là mảnh đất màu mỡ cho tham ô nảy nở và phát triển. Vì vậy, “chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận. Đây là mặt trận tư tưởng và chính trị”5. Ngoài ra, theo Bác, tham ô còn do trình độ hiểu biết, trình độ văn hoá và năng lực tổ chức, quản lý nhà nước yếu kém. Cho nên muốn chống tham ô, cần phải nâng cao trình độ của cán bộ, công chức cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, phong cách và văn hoá cũng như năng lực tổ chức, quản lý nhà nước.
Nhằm nâng cao ý thức phòng, chống tham nhũng trong cán bộ, đảng viên, Bác yêu cầu trước hết phải tạo nhận thức chung và có quyết tâm cao trong các cấp lãnh đạo, quản lý. Theo Người, đây là cuộc cách mạng nội bộ; là cuộc đấu tranh gay go giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng với tệ tham nhũng. Biện pháp quan trọng hàng đầu để đấu tranh chống tham nhũng chính là giáo dục tư tưởng cho quần chúng. Người nói: “làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”6. Trong cuộc đấu tranh này, quần chúng nhân dân giám sát cán bộ, công chức, phát hiện sai phạm, phê bình, lên án các biểu hiện tiêu cực. Đồng thời, phản ánh, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền để có biện pháp xử lý phù hợp, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, không nể nang người có chức vụ, địa vị, với mục đích bảo vệ công lý, răn đe, làm gương cho những người đang hoặc có ý định tham ô. Cùng với đó, theo Bác là phải chống chủ nghĩa cá nhân, vì nó là thứ vi trùng rất độc, là kẻ thù nguy hiểm gây ra mọi sai lầm, tội lỗi. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong mỗi cán bộ, đảng viên, trong bộ máy của Đảng, Nhà nước thì Đảng mới thực sự trong sạch và vững mạnh. Đảng phải thực hành kỷ luật nghiêm minh, Nhà nước phải có các thể chế, luật pháp cụ thể, rõ ràng. Việc chống các hành vi tiêu cực phải quyết liệt, có tinh thần trung kiên, không khuất phục trước khó khăn, thử thách; phải kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó, “chống” là bảo đảm cho công việc “xây” thành công, “xây” phát triển mạnh mẽ thì đối tượng “chống’ sẽ được xóa bỏ tận gốc. Quá trình tiến hành phải đồng tâm, nhất trí, dựa vào sức mạnh của nhân dân, mạnh bạo xung phong, huy động được sự tham gia của các tổ chức, lực lượng.
                    Bác cho rằng, phải phát huy vai trò của báo chí trong nâng cao ý thức trách nhiệm đối với phòng, chống tham nhũng. Báo chí phải nêu được những việc kiểu mẫu, đăng những lời phê bình của quần chúng; làm cho mọi người thấy rõ những hành vi tham nhũng của công là tội ác. Và những ai, cơ quan nào được nhân dân và báo chí phê bình thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, trên báo chí. Các ban thanh tra phải chú ý kiểm tra việc phòng, chống tham nhũng ở cơ quan mình; nghiêm chỉnh, kịp thời xem xét các vụ khiếu nại, tố giác; phải công khai, dân chủ, minh bạch trong mọi hoạt động, xử lý nghiêm minh những hành vi thiếu tinh thần trách nhiệm, gây lãng phí tài sản của nhân dân. Bác yêu cầu, trong kiểm thảo phải thực hiện nguyên tắc: cán bộ, đảng viên ở vị trí càng cao thì càng phải giữ đúng kỷ luật của Đảng, càng phải làm gương dân chủ, mạnh dạn, thật thà tự kiểm thảo; thật thà báo cáo tình hình của cơ quan, đơn vị mình cho mọi người trong toàn đơn vị, toàn ngành biết rõ. Qúa trình làm phải nắm vững trọng điểm, làm từng bước, từ cấp trên đến cấp dưới, từ bộ phận chính đến bộ phận phụ; lấy giáo dục là chính, trừng phạt là phụ; có khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh; coi trọng tự phê bình và phê bình, chống thói “cả vú lấp miệng em”, ngăn cản quần chúng phê bình. Các cấp cần phát huy vai trò của chi bộ, đề cao trách nhiệm của chính quyền, thủ trưởng cơ quan, đơn vị, xí nghiệp trong lãnh đạo phòng, chống tham nhũng. Mặt khác, phải khắc phục những ý nghĩ sai lầm, như: “những người có công với cách mạng nếu có tham ô chút đỉnh, cũng nên tha thứ cho họ”, hoặc tư tưởng trung bình chủ nghĩa “ai tham ô mặc ai, mình không tham ô thì thôi”, v.v. 
                    Hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham nhũng được Đảng ta xác định là một trong những nội dung cơ bản trong Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đồng thời, là biện pháp thiết thực để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên dù ở bất cứ cương vị nào cũng phải quán triệt, thấu suốt và thực hiện nghiêm túc, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn tham nhũng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
                                                                             ĐẠI TÁ, TS. ĐỖ HỒNG LÂM