Thứ Năm, 18 tháng 8, 2016

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

               Trong lịch sử, mỗi cuộc cách mạng xã hội nổ ra, giành thắng lợi đều có nguyên nhân chủ quan và khách quan; trong đó, nhân tố quyết định là lực lượng tiên phong lãnh đạo và sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam là một cuộc cách mạng như thế. Đó là sự thật lịch sử không thể phủ nhận.
            Thế nhưng, vẫn cứ có quan điểm cho rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi là nhờ “ăn may” mà có(!) Đây là luận điệu sai trái, phản khoa học, nằm trong âm mưu và chiến lược chống phá cách mạng của các thế lực thù địch, phản động, mà trước hết là chĩa mũi nhọn chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với những thắng lợi vĩ đại của các mạng, những sự kiện lịch sử của dân tộc qua các thời kỳ. Trong đó, luận điệu lố bịch nêu trên về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám chỉ là một trong những dẫn chứng điển hình.
            Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sáng lập mùa Xuân năm 1930 đã đề ra mục tiêu và kiên trì lãnh đạo toàn dân tộc đấu tranh làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập, tạo tiền đề để xây dựng một xã hội tốt đẹp - xã hội xã hội chủ nghĩa; kết hợp chặt chẽ giải phóng dân tộc với giải phóng xã hội, vì quyền tự do, hạnh phúc của người dân Việt Nam bị đọa đầy, đau khổ dưới ách áp bức thống trị của chế độ thực dân, phong kiến. Sự thật lịch sử là trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp diễn ra sôi nổi, từ lập trường Cần Vương đến xu hướng tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm của lịch sử đều lần lượt thất bại. Chỉ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với cương lĩnh, đường lối đúng đắn, phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế lúc bấy giờ, cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới. Trải qua các cao trào cách mạng: 1930-1931, 1936-1939 và đặc biệt là cao trào giải phóng dân tộc 1939-1945, trực tiếp dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Lịch sử càng lùi xa, với hiện thực và tư liệu sống động càng làm rõ sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám - cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình của thế kỷ XX. Hiện thực khách quan này không thể phủ nhận!
            Điều đó được thể hiện trước hết là Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định mục tiêu và không ngừng phát triển, hoàn thiện đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngay từ năm 1920, tại nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ quan điểm: độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, đấy là tất cả những gì tôi hiểu. Cương lĩnh năm 1930 của Đảng hướng chủ yếu vào mục tiêu đánh đổ sự thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, giành độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dân cày và cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho toàn dân. Tư tưởng đặt lên hàng đầu mục tiêu giải phóng dân tộc của Người được Hội nghị Trung ương Đảng (tháng 11-1939) đặc biệt nhấn mạnh và khi cách mạng thành công sẽ xóa bỏ chế độ quân chủ phong kiến, đánh đổ chế độ thực dân, xây dựng chính thể cộng hòa dân chủ Việt Nam. Trước sự thay đổi nhanh chóng của tình hình thế giới và trong nước lúc bấy giờ, Đảng chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; đặt khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền là nhiệm vụ trung tâm. Tập trung xây dựng Mặt trận Việt Minh, khối đại đoàn kết toàn dân tộc với chương trình hành động và những chính sách cụ thể, thiết thực; chú trọng phân tích tình thế cách mạng và nắm bắt thời cơ; thống nhất tư tưởng, ý chí và hành động; xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng; chủ động đề ra đường lối, chủ trương nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết, đã dẫn dắt phong trào cách mạng không ngừng phát triển và thành công. Đường lối đó dựa trên sự phân tích và nhận thức sâu sắc đặc điểm, hoàn cảnh của đất nước, những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của xã hội, nguyện vọng, khát vọng độc lập, quyền sống của nhân dân và sự phát triển của tình hình quốc tế. Đồng thời, là sự vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về chiến tranh và cách mạng, về khởi nghĩa vũ trang, về vấn đề chính quyền nhà nước. Bởi thế, Cách mạng Tháng Tám đã diễn ra đúng như chủ trương, định hướng của Đảng và giành thắng lợi. Giá trị khoa học và thực tiễn của Cách mạng Tháng Tám không tách rời quan điểm, đường lối sáng tạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Nguyên nhân dẫn đến thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám có cả khách quan và chủ quan. Chúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng của nhân tố khách quan, đó là sự biến chuyển của tình hình thế giới, khu vực ở thời điểm đó đã tác động tích cực, tạo thuận lợi đối với cách mạng Việt Nam. Nhưng phải thấy nhân tố chủ quan, đó là sự nỗ lực của Đảng và nhân dân ta giữ vai trò quyết định. Điều đó thể hiện ở đường lối, chủ trương, phương pháp cách mạng đúng đắn và biểu hiện cụ thể ở việc nắm bắt và tận dụng thời cơ chín muồi cũng như tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng đủ mạnh để sẵn sàng cho tổng khởi nghĩa. Sự thật là vậy, mà sự thật lịch sử thì mãi mãi là sự thật và giá trị của nó là ở đó. Thế nhưng các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị vẫn ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật, dù họ vẫn biết là vô vọng. Thật vô lý, kệch cỡm và nực cười!
            Để chuẩn bị thực lực cách mạng, đảm bảo cho tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng tổ chức Việt Minh để giác ngộ, tập hợp quần chúng nhân dân. Từ lực lượng chính trị của quần chúng để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng: Đội Cứu quốc quân (1941), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (22-12-1944) và Việt Nam giải phóng quân (15-5-1945). Lực lượng vũ trang cách mạng do Đảng lãnh đạo tạo nên sức mạnh của cách mạng, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân. Trong cao trào giải phóng dân tộc, lực lượng chính trị của quần chúng được tập hợp trong Mặt trận Việt Minh nhằm động viên cao độ ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước của nhân dân. Mặt trận có hệ thống tổ chức chặt chẽ với chương trình hành động và chính sách cụ thể, nên có vai trò to lớn trong đoàn kết lực lượng toàn dân, tuyên truyền và hướng dẫn quần chúng đấu tranh. Thành viên của Mặt trận là các hội: Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Văn hóa cứu quốc,… có vai trò rất quan trọng trong huấn luyện, tuyên truyền và tổ chức đấu tranh, tạo sức mạnh tổng hợp của cách mạng. Sự kết hợp phát triển lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, phát triển phong trào cách mạng ở vùng rừng núi, nông thôn, đồng bằng và các đô thị là nét nổi bật trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, bảo đảm sự chủ động và hỗ trợ giữa các địa bàn cả nước. Từ khởi nghĩa từng phần giành thắng lợi từng bước đã củng cố và phát triển sức mạnh thực tế của cách mạng. Đứng về phe đồng minh chống phát-xít, song Đảng luôn nhấn mạnh phải tăng cường thực lực cách mạng của chính mình mới có thể giành được thắng lợi. Cách mạng phải có sức mạnh thật sự, không được ỷ lại vào sự giúp đỡ từ bên ngoài. Nhân tố chủ quan và nội lực, ý chí tự lực, tự cường bao giờ cũng có vai trò quyết định, thuận lợi từ hoàn cảnh khách quan là quan trọng cần biết tranh thủ. Đó là những vấn đề cần được nhận thức rõ trong khoa học lãnh đạo cách mạng.
            Sự nghiệp cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản và Hồ Chí Minh lãnh đạo, ngay từ đầu đã nêu cao chủ nghĩa quốc tế trong sáng, phấn đấu vì sự nghiệp đấu tranh chung của loài người chống áp bức, bất công và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Chủ nghĩa quốc tế được Việt Nam - Hồ Chí Minh biểu hiện không chỉ trong quan hệ với những người đồng chí cùng ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa, mà còn với tất cả người yêu chuộng hòa bình, khát vọng độc lập, tự do trên thế giới. Hồ Chí Minh là chiến sĩ quốc tế lỗi lạc và Người đã rèn luyện Đảng tinh thần quốc tế cao cả đó. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trở thành một bài học lớn của cách mạng Việt Nam. Nhờ đó, chúng ta đã tranh thủ sự giúp đỡ của các nước đồng minh ủng hộ Việt Nam - yếu tố rất quan trọng làm nên Cách mạng Tháng Tám thành công. Đồng thời, cũng thể hiện sự tài tình của Đảng, Bác Hồ trong chỉ đạo chiến lược cách mạng, tập hợp lực lượng, tạo sức mạnh tổng hợp để đánh đổ thực dân, phong kiến, giành độc lập, tự do cho dân tộc.
            Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh còn thể hiện ở sự nắm bắt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ để giành thắng lợi nhanh và ít tổn thất. Từ tháng 6-1940, khi nước Pháp bị phát-xít Nhật xâm chiếm, thế lực Pháp ở Đông Dương suy yếu, Nguyễn Ái Quốc đã nhìn thấy cơ hội giành độc lập. Người đã quyết định cùng các đồng chí của mình trở về Tổ quốc. Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941) đã phân tích thời cơ cách mạng và đặt ra yêu cầu chủ động nắm bắt thời cơ trên cơ sở thúc đẩy phát triển mạnh mẽ lực lượng cách mạng về mọi mặt. Tháng 10-1944, Hồ Chí Minh có thư gửi đồng bào toàn quốc, trong đó nêu rõ: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh”1. Phải làm nhanh nghĩa là ra sức phát triển lực lượng, thực lực của cách mạng để khi có cơ hội thuận lợi mới có thể đi tới thành công. Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12-3-1945) phân tích sự khủng hoảng chính trị - mâu thuẫn Nhật - Pháp; sự phát triển của phong trào cách mạng trên cả nước và vai trò lãnh đạo của Đảng; đồng thời, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước và thúc đẩy cơ hội giúp cho những điều kiện khởi nghĩa mau chín muồi. Tháng 8-1945, cao trào cách mạng giải phóng phát triển mạnh mẽ trên cả nước và khi Nhật đầu hàng đồng minh, Đảng đã phát động tổng khởi nghĩa. Thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám là ở nửa cuối tháng 8-1945. Nếu khởi nghĩa trước khi Nhật đầu hàng đồng minh, cách mạng sẽ gặp khó khăn; nếu để qua tháng 8 mới khởi nghĩa, cách mạng sẽ phải đương đầu với khó khăn, phức tạp khi quân đồng minh (Anh, Trung Hoa) kéo vào để tước vũ khí quân Nhật và thực hiện những toan tính của họ. Khi đó, quân Pháp lợi dụng sự thất bại của Nhật để quay lại cai trị Việt Nam và Đông Dương như trước ngày 09-3-1945. Đó là những nguy cơ mà Đảng, Hồ Chí Minh đã phân tích và phải vượt qua. Phát huy ý chí tự lực tự cường và sức mạnh toàn dân tộc, chủ động đón thời cơ và đẩy lùi nguy cơ, là thành công nổi bật trong lãnh đạo, chỉ đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Đảng.
            Sự lãnh đạo của Đảng còn thể hiện ở ý chí quyết tâm, tinh thần chiến đấu, dù phải hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Nghị quyết của Hội nghị toàn quốc của Đảng (ngày 14 và 15-8-1945) đã nêu rõ: “1. Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới. 2. Tình thế vô cùng khẩn cấp. Tất cả mọi việc đều phải nhằm vào ba nguyên tắc: a) Tập trung - tập trung lực lượng vào những việc chính. b) Thống nhất - thống nhất về mọi phương diện quân sự, chính trị, hành động và chỉ huy. c) Kịp thời - kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội. 3. Mục đích cuộc chiến đấu của ta lúc này là giành quyền độc lập hoàn toàn”2. Để đẩy lùi nguy cơ, Đảng nhấn mạnh: “Chính sách chúng ta là phải tránh cái trường hợp một mình phải đối phó với nhiều lực lượng đồng minh (Tàu, Pháp, Anh, Mỹ) tràn vào nước ta và đặt Chính phủ của Pháp Đờ-Gôn hay một chính phủ bù nhìn khác trái với ý nguyện dân tộc. Bởi vậy, cần phải tranh thủ sự đồng tình của Liên Xô và Mỹ chống lại mưu mô của một số quân phiệt Tàu định chiếm nước ta. Dù sao chỉ có thực lực của ta mới quyết định được sự thắng lợi giữa ta và đồng minh”. Những quyết định sáng suốt và sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng tạo, quyết đoán của Đảng, cùng với sự chủ động, năng động, trách nhiệm cao trong lãnh đạo khởi nghĩa của các tổ chức đảng và Việt Minh ở các địa phương đã làm nên thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Với đường lối đấu tranh vì lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc, vì nền độc lập hoàn toàn, Đảng đã tập hợp đoàn kết toàn dân, cổ vũ bởi tinh thần yêu nước và khát vọng độc lập, tự do và với vai trò tổ chức, chỉ đạo sáng tạo, tập trung, thống nhất, kịp thời, chọn đúng thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, đã đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi vẻ vang, mở ra thời đại mới của lịch sử dân tộc - thời đại đất nước được độc lập, nhân dân làm chủ và từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó là sự thật lịch sử sáng tỏ như ánh sáng mặt trời, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam và được nhân dân thế giới khâm phục.
            Tất cả những điều đó đã thể hiện rõ sự tài tình, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu - yếu tố quyết định để làm nên Cách mạng Tháng Tám vĩ đại. Những luận điệu cố tình phủ nhận, xuyên tạc lịch sử là hành động phản khoa học, với mưu đồ xấu. Về đạo lý, đó là hành động vô ơn đối với các thế hệ đã làm nên lịch sử. Về chính trị, là thể hiện lập trường chống cộng, phản động, đối lập với sự nghiệp cách mạng của dân tộc và nhân dân. Những người cố tình xuyên tạc sự thật về Cách mạng Tháng Tám cần nghiên cứu, tìm hiểu kỹ sự đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh để thấy được sự thật về thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.
            PGS, TS. NGUYỄN TRỌNG PHÚC


GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG "KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO" TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

           Độc lập, tự do luôn là mục tiêu, khát vọng của cả nhân loại. Đối với Việt Nam, đó còn là ý chí, khí phách được hun đúc trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” tạo nên nguồn sức mạnh to lớn để nhân dân ta “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
          Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam là cuộc đụng đầu lịch sử. Vào giai đoạn quyết liệt của cuộc chiến, ngày 17-7-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước, trong đó khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đây là tư tưởng vĩ đại của Người - vị lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam - là tư tưởng, ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và đó cũng là chân lý của thời đại. Vì thế, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã động viên mạnh mẽ lòng yêu nước, dũng khí cách mạng của nhân dân ta, thúc giục quân và dân cả nước vượt mọi gian khổ, hy sinh, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Từ thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho thấy, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành một trong những động lực chủ yếu đưa cuộc chiến đầy khó khăn, gian khổ đến thắng lợi hoàn toàn và giá trị của nó được biểu hiện trên các nội dung cơ bản sau:
          1. Sau năm 1954, mặc dù giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhưng đất nước ta vẫn phải tạm thời chia cắt làm hai miền: miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam còn nằm dưới ách thống trị của kẻ thù; do đó, vấn đề độc lập, tự do đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải tiếp tục đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Đặc biệt, khi đế quốc Mỹ trực tiếp đem quân tham chiến ở miền Nam (năm 1965), leo thang đánh phá miền Bắc thì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, của dân tộc bị đe dọa nghiêm trọng. Hơn lúc nào hết, khát vọng về độc lập, tự do cho Tổ quốc, cho nhân dân ta càng cháy bỏng hơn. Tuy nhiên, việc Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam cũng khiến một số cán bộ, đảng viên và nhân dân nảy sinh tư tưởng ngại gian khổ, ác liệt, băn khoăn, do dự: làm thế nào để đánh được Mỹ, thắng Mỹ. Trên thế giới, nhiều chính phủ và những chính khách có tên tuổi tỏ ra lo ngại cho Việt Nam. Họ khuyên ta không nên đối đầu với Mỹ - một siêu cường chưa từng thua trận bao giờ, v.v. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố đanh thép: “… Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do.”1
          Như vậy, tư tưởng trên của Người đã khẳng định điều thiêng liêng nhất, quý giá nhất của mỗi người, mỗi dân tộc và nhân loại là độc lập, tự do. Có độc lập, tự do thì sẽ có tất cả; trái lại, nếu không có độc lập, tự do thì sẽ không có bất cứ thứ gì. Thực tiễn lịch sử nhân loại, lịch sử Việt Nam cho thấy, một đất nước không thể phồn vinh, nhân dân không thể có hạnh phúc nếu đất nước, dân tộc đó không có độc lập, tự do. Giá trị tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước còn được thể hiện khi khẳng định quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc trong một nước độc lập, tự do là vô cùng quý giá, thiêng liêng, không ai có thể tự cho mình quyền can thiệp, xâm hại nền độc lập của một quốc gia có chủ quyền. Thực hiện tư tưởng đó, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã vùng lên dám đánh, quyết tâm đánh Mỹ và biết thắng giặc Mỹ xâm lược. Với lòng quyết tâm sắt đá, tinh thần chủ động, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh thắng quân Mỹ ngay từ trận đầu (Núi Thành, Ba Gia, Plây-me,…) đến các chiến dịch lớn, các cuộc phản công chiến lược mà đỉnh cao là thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã kết thúc thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đất nước ta được độc lập, nhân dân ta thực sự giành được tự do.
          2. Chiến tranh là cuộc thử thách khắc nghiệt, toàn diện đối với mọi quốc gia, dân tộc. Đối với Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước càng là một thử thách đặc biệt quan trọng, bởi chúng ta phải đương đầu với một kẻ thù tàn bạo, có tiềm lực kinh tế, quân sự và phương tiện chiến tranh hiện đại nhất thế giới, hơn ta gấp nhiều lần2. Vì thế, muốn giành được thắng lợi, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, chúng ta không thể ngồi yên chờ đợi vận may, càng không thể chờ vào sự ban ơn của các thế lực đế quốc. Nói cách khác, để giải phóng dân tộc, nhân dân ta phải tự lực, tự cường, bằng sức lực của mình là chủ yếu, kết hợp với sức mạnh của thời đại để đánh thắng kẻ thù. Đây là một trong những giá trị cốt lõi của tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thực hiện chủ trương đó, ngay khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta đã xác định và lãnh đạo cả nước thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (mang tính quyết định) và cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam. Theo đó, ở miền Bắc, Đảng ta vừa tập trung thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân, vừa chú trọng củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, tạo nền tảng vững chắc để bảo vệ miền Bắc và chi viện đắc lực tiền tuyến lớn miền Nam. Tính đến giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, miền Bắc đã xây dựng được lực lượng vũ trang hùng hậu3, đáp ứng yêu cầu của chiến trường miền Nam và đánh bại các cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ, bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, vừa sản xuất, vừa chiến đấu và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; thực hiện tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược, bằng ba mũi giáp công, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị. Do vậy, phong trào đấu tranh của quân và dân miền Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng phát triển và trưởng thành, gây cho địch nhiều tổn thất; thực hiện giành thắng lợi từng bước đến thắng lợi hoàn toàn. Ngoài ra, chúng ta còn triệt để tranh thủ sự ủng hộ cả về vật chất và tinh thần của cộng đồng quốc tế và của các dân tộc tiến bộ trên thế giới để tạo sức mạnh chiến thắng kẻ thù. Như vậy, với tư tưởng tự lực, tự cường; từ sức mạnh nội lực của cả nước là chính, chúng ta đã không ngừng tạo ra sức mạnh tổng hợp, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đánh thắng đế quốc Mỹ, giành lại độc lập, tự do cho đất nước và dân tộc.
          3. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giá trị của tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” còn tạo luồng sinh khí mới, động viên, quy tụ sức mạnh của cả nước, tạo sức mạnh tổng hợp để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược. Ngay sau Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên toàn miền Bắc, công tác chỉ đạo của Đảng, Nhà nước được chuyển hướng cho phù hợp với thời chiến. Các cấp, ngành, lực lượng được bố trí, sắp xếp hết sức linh hoạt, bảo đảm sẵn sàng cơ động chiến đấu và chi viện cho các chiến trường. Khắp nơi trên miền Bắc, phong trào thi đua yêu nước vì miền Nam ruột thịt được dấy lên sôi nổi, như các phong trào: “Ba đảm đang” (trong phụ nữ), “Ba sẵn sàng” (trong thanh niên), “Ba quyết tâm” (trong trí thức), v.v. Hàng triệu thanh niên nam, nữ tình nguyện tòng quân; hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, cựu binh xin tái ngũ. Hằng ngày, trên đồng ruộng, nông dân thực hiện khẩu hiệu “tay cày, tay súng”; trong hầm mỏ, nhà máy, xí nghiệp, công nhân thực hiện khẩu hiệu “tay súng, tay búa”, không ngừng nâng cao năng suất lao động. Từ Tây Bắc, Việt Bắc đến đô thị và đồng bằng, những đoàn quân nườm nượp tiến về tiền tuyến lớn. Ở miền Nam, hưởng ứng Lời kêu gọi của Người, 14 triệu nhân dân quyết tâm: thà chết chứ nhất định không chịu làm nô lệ. Dù địch có được 5 hay 50 vạn quân, dù trang bị bằng thứ vũ khí gì, chúng ta cũng luôn quyết tâm đánh bại chúng, đánh cho đến khi không còn tên xâm lược nào trên đất nước ta. Như vậy, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xuất hiện rất kịp thời, khi mà quân và dân cả nước đang rất cần một tư tưởng để thống nhất hành động. Tư tưởng đó đã hiệu triệu và lôi cuốn đồng bào cả nước, quy tụ tiềm lực mọi mặt của nước nhà, tạo nên sức mạnh tổng hợp chưa từng có, hơn hẳn để chiến thắng đội quân viễn chinh của Mỹ cũng như lực lượng ngụy quân, ngụy quyền tay sai. Không những vậy, tư tưởng đó còn tác động đến toàn bộ các dân tộc yêu chuộng hoà bình trên thế giới (kể cả nhân dân Mỹ) hết lòng ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
          Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành chân lý của thời đại; là thứ giá trị nhất mà nhân dân ta phải luôn giành và giữ lấy bằng sức mạnh của cả dân tộc. Đồng thời, chân lý đó đã khẳng định một điều hiển nhiên trong lịch sử: không có độc lập thì đương nhiên sẽ không bao giờ có được tự do; chỉ khi nước nhà được độc lập, thì tự do mới đến với nhân dân. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới của đất nước, chúng ta tiến hành hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng với nhiều khó khăn, thách thức mới; cho nên, cần quán triệt sâu sắc tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” để luôn luôn chủ động trong bảo vệ nền độc lập và quyền tự do thiêng liêng nhất của dân tộc.

                   TS. NGUYỄN THÀNH HỮU - NGUYỄN VĂN SỬ

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2016

HẠ BỆ THẦN TƯỢNG - MỤC ĐÍCH VÀ SỰ THẤT BẠI TẤT YẾU

           Hồ Chí Minh được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam nhiều thế hệ gọi bằng danh xưng rất đỗi thân thương “Bác Hồ”! Cuộc đời và sự nghiệp của Người là giá trị của văn hóa, của sự phát triển trong thời đại ngày nay, là thần tượng trong lòng người Việt Nam yêu nước. Vì thế, Hồ Chí Minh trở thành một tâm điểm, đối tượng để các thế lực thù địch hạ bệ, đả kích, xuyên tạc. Nhưng, tất cả mưu đồ và hành động của chúng đã, đang và tất yếu sẽ thất bại.
Tâm đen dẫn đến mục đích xấu
          Các thế lực thù địch không từ một thủ đoạn và phương thức nào để xuyên tạc, nói xấu lãnh tụ, những người lãnh đạo cách mạng vô sản. Việc hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh hiện nay cũng nằm trong “luồng” này. Có kẻ đã nói trắng ra rằng: “Đối với những người căm thù cộng sản, Hồ Chí Minh trở thành nơi để người ta trút tất cả những sự phẫn nộ, thù hận và sự khinh bỉ”1.
          Những người có cái tâm đen, lòng đầy hận thù với sự nghiệp cách mạng Việt Nam thì chắc chắn đều muốn hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh. Mục đích của họ là muốn xóa bỏ ảnh hưởng của Hồ Chí Minh đối với quá trình cách mạng Việt Nam, xóa bỏ chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa để lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Họ viết sách, báo để cố tình xuyên tạc Hồ Chí Minh đủ điều, từ đời riêng đến sự nghiệp cách mạng; cố tình đem Hồ Chí Minh đối lập với dân tộc Việt Nam; rồi lý giải nhân dân Việt Nam yêu kính Hồ Chí Minh là do sùng bái cá nhân (!)
          Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành giá trị văn hóa có tính bền vững của cả dân tộc ta. Nếu làm sụp đổ thần tượng này, thì cũng làm mất giá trị văn hóa và làm cho Việt Nam đi theo một con đường khác. Do vậy, việc hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh cũng là đánh vào sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Vì thế, trên các phương tiện thông tin đại chúng, những bài viết, những cuốn sách và phim, ảnh xuyên tạc về Hồ Chí Minh không ít. Họ thẳng thừng tuyên bố: “cương quyết đạp đổ thần tượng Hồ Chí Minh, phá bỏ huyền thoại, và vì thế tìm đủ mọi cách để có thể hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh bằng mọi giá”2.
          Trong nhiều ý kiến đả kích, xuyên tạc, đáng chú ý là những ý kiến cho rằng, không có tư tưởng Hồ Chí Minh; tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là điều do Đảng Cộng sản Việt Nam tưởng tượng ra; cuộc đời của Hồ Chí Minh đầy những điều giả dối; Hồ Chí Minh là con người độc tài,... do đó không xứng đáng là một “thần tượng” để mọi người dân Việt Nam ngưỡng mộ (!) Trong nhiều biện pháp, thì biện pháp đánh vào cái gốc, nền tảng tư tưởng, yếu tố tinh thần, giá trị văn hóa với tư cách như là la bàn định hướng đi cho dân tộc và đánh vào lãnh tụ của sự nghiệp cách mạng Việt Nam,… là biện pháp rất thâm hiểm và hèn hạ. Những kẻ xấu đã không từ một thủ đoạn, hành vi nào, tận dụng mọi diễn đàn để bôi xấu, xuyên tạc về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng sẵn sàng bóp méo thông tin, xuyên tạc, đổi trắng thay đen, đánh tráo khái niệm với nhiều cách thức khác nhau, khi thì thể hiện cách nói, viết một cách tinh vi, ngụ ý, ẩn giấu; lúc thì trắng trợn, cực đoan với những lời lẽ “hàng tôm hàng cá”, hằn học, chửi bới, mạt sát, v.v. Nhưng xem ra, loại bịa đặt nhân chứng, tài liệu, hoặc dựa trên một vài sự kiện chưa được kiểm chứng để xuyên tạc về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh với cách trình bày lắt léo, tinh vi, cộng với bút pháp có vẻ ly kỳ là nguy hiểm hơn cả. Bởi, họ làm ra vẻ mình là người “trong cuộc”, thậm chí một số người xuất thân là con em cách mạng, nên nắm chắc được bản chất của sự kiện để khẳng định những điều họ viết, nói là “sự thật”. Là “những người dân chủ”, nay họ “vén những tấm màn bí mật” ở chốn “thâm cung bí sử”. Nhưng, họ thường là những người bất mãn với chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, với cách mạng Việt Nam. Cho nên, họ có thái độ cực kỳ cay cú, “ăn thua”, sẵn sàng bịa chuyện, hoặc dựa trên một vài sự kiện, tài liệu có thật để rồi thêm thắt, bình luận, hoặc viết rất ly kỳ, giảo trá để nói xấu Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam. Họ tự bào chữa cho những sai lầm của mình hoặc gia đình mình trong quá khứ; nhấn mạnh, tô đậm những sai lầm, khuyết điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho rằng: đối với những người vượt biên, hay là nạn nhân của chế độ cộng sản, buộc phải rời Tổ quốc ra đi trong một nỗi đau khổ khốn cùng, trong một lòng thù hận khôn nguôi, thì chỉ có Hồ Chí Minh là cái đích, cái biểu tượng dễ nhất để mà “khạc nhổ, để mà đánh đấm”3. Vì vậy, họ viết và nói xuyên tạc về Hồ Chí Minh sặc mùi bỉ ổi, không ngại bất cứ khía cạnh nào, kể cả về hùa với nhau cố tình bôi đen đời tư của Người với mức độ càng ngày càng cay cú, cực đoan, thâm hiểm. Dù có lúc họ nói trắng mục đích, hoặc nói kiểu “vòng vo tam quốc”, “giấu bài”, nhưng rồi cũng lộ ra cái mục đích là chống phá một cách điên cuồng đối với con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Do vậy, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ Hồ Chí Minh, bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, là những cuộc chiến gian nan, quyết liệt để bảo vệ sự phát triển của dân tộc, tức là bảo vệ mục tiêu và con đường xã hội chủ nghĩa mà Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn và Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định ngay từ ngày đầu thành lập - năm 1930.
          Sự thất bại tất yếu
          Thực tế lịch sử Việt Nam đã chứng tỏ rằng, không những chủ nghĩa Mác – Lê-nin, mà cả tư tưởng Hồ Chí Minh nữa, đã trở thành nền tảng tư tưởng, yếu tố chỉ đạo làm nên thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung và sự nghiệp đổi mới nói riêng. Những năm đầu của sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sáng suốt khi nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh và khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và t­ư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư­ tưởng, kim chỉ nam cho hành động”4. Đồng thời, nêu rõ: “… tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin trong điều kiện cụ thể của nư­ớc ta, và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc”5. Trong khi khẳng định và nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng cho rằng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh… tiêu biểu sáng ngời cho sự kết hợp giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với mỗi người Việt Nam là vô cùng gần gũi, gắn liền với tình cảm yêu thương vô hạn của nhân dân đối với Bác Hồ, bởi công lao to lớn và đạo đức cách mạng trong sáng của Người. Vì vậy, nói tư tưởng Hồ Chí Minh là phù hợp với thực tế cách mạng nước ta, phù hợp với tình cảm và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta”6. Đảng xác định: “Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hư­ớng xã hội chủ nghĩa và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới, Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội”7.
          Thực tế trong xã hội Việt Nam đã và đang diễn ra tình hình như vậy, không ai có thể chối cãi được. Nhưng, các thế lực thù địch và những kẻ nuôi lòng thù hận đối với cách mạng Việt Nam lại cố tình không chấp nhận thực tế khách quan đó. Chúng nghĩ suy và hành động đi ngược lại tình cảm, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam đối với Bác Hồ kính yêu. Sự thực, sau gần 30 năm đổi mới đất nước theo những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội đã đưa lại cho chúng ta sự tin tưởng một cách chắc chắn rằng, âm mưu và hành động của các thế lực thù địch nhằm hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh đang và sẽ tất yếu thất bại, bởi mấy lý do chủ yếu sau đây:
          Một là, Hồ Chí Minh là một “nhân vật kiệt xuất” của dân tộc và thế giới, không ai có thể phủ nhận được. Hồ Chí Minh là một người suốt đời nguyện dấn thân vào cuộc đấu tranh cho sự nghiệp cao cả: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Hồ Chí Minh là người con của một dân tộc luôn có khát vọng cháy bỏng và tìm mọi cách đấu tranh cho hòa bình, tiến bộ xã hội. Không một ai có thể phủ nhận được sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chí Minh đối với quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam. Nói đến thế kỷ XX - thế kỷ được gọi bằng cái tên là “thế kỷ phi thực dân hóa” - những người tiến bộ trên toàn thế giới không thể không nhắc tới Hồ Chí Minh, một con người hiện thân cho một nền hòa bình và sự khát khao độc lập, tự do; cho sự đấu tranh không khoan nhượng và ngừng nghỉ chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới; cho sự tiến bộ xã hội và ấm no, hạnh phúc của nhân dân lao động. Sự nghiệp đó đã là sự nghiệp cực kỳ nổi bật của dân tộc Việt Nam trong lịch sử cận - hiện đại từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam cuối thế kỷ XIX, mà người tiêu biểu nhất là Hồ Chí Minh. Thế giới nói đến Hồ Chí Minh là nói đến dân tộc Việt Nam và nói tới dân tộc Việt Nam là nói tới Hồ Chí Minh - một con người tiêu biểu cho giá trị chân - thiện - mỹ. Dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc tiên phong trên thế giới đấu tranh một cách tích cực nhất cho những giá trị tốt đẹp của nhân loại. Một con người tiên phong của dân tộc tiên phong ấy là Hồ Chí Minh. Nếu tạc tượng những vĩ nhân của thế kỷ XX - thế kỷ đấu tranh cho khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc - thì Hồ Chí Minh xứng đáng được tạc bức tượng đẹp nhất.
          Hồ Chí Minh là người luôn đứng trong các sự kiện trọng đại của thế giới và của đất nước, có tác động tích cực vào sự phát triển của những vấn đề toàn cầu, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hòa bình, tiến bộ trên thế giới. Không phải ngẫu nhiên mà toàn dân Việt Nam đều tôn vinh Hồ Chí Minh, coi Người là “Bác Hồ” của nhiều thế hệ. Cũng không phải ngẫu nhiên mà tại Phiên họp lần thứ 24 (từ 20-10-1987 đến 20-11-1987) ở Pa-ri (Pháp), Đại Hội đồng UNESCO đã thông qua Nghị quyết 24C/18.6.5 “Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, trong đó có đoạn nêu rõ: “Ghi nhận năm 1990 sẽ đánh dấu 100 năm Kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam… Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng kiệt xuất về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội… Những đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là sự kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc mong muốn được khẳng định bản sắc văn hóa của mình và mong muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”8. Đây là điều thực hiện ý tưởng của UNESCO trong Phiên họp lần thứ 18 (từ 17-10 đến 23-11-1974) của Đại hội đồng tại Pa-ri đã ra Nghị quyết khung 18C/4.351; trong đó, nêu: “mong muốn thực hiện tổ chức lễ kỷ niệm các nhân vật kiệt xuất và sự kiện lớn tại các quốc gia thành viên nhằm góp phần làm cho mọi người biết đến tên của các nhân vật này và các sự kiện đã để lại dấu ấn trong sự phát triển của nhân loại”.
          Hai là, Hồ Chí Minh có một đời tư vô cùng trong sáng và đẹp đẽ. Từ buổi thiếu niên cho đến phút cuối cùng, cả cuộc đời của Hồ Chí Minh đều vì sự nghiệp cách mạng. Người đã hy sinh cái riêng của bản thân mình để dâng hiến cho Tổ quốc và nhân loại cần lao và có tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng, đẹp đẽ, không chút bụi mờ. Cả cuộc đời của Người đã thấm đượm những điều sau đây:
Có tấm lòng nhân ái khôn cùng (nhân văn, thương yêu, quý trọng con người). Hồ Chí Minh nghĩ đến dân mình, nhân loại bị áp bức, bóc lột cần được giải phóng, những người khi cuộc sống của họ còn nghèo để rồi cùng mọi người dấn thân vào cuộc chiến cho độc lập, tự do, vào cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những gì cũ kỹ, hư hỏng, tạo ra những cái mới đẹp đẽ, tốt tươi. Người đã quên mình vì nghĩa cử cao đẹp cho sự tiến bộ của chính bản thân con người.
Cả cuộc đời của Hồ Chí Minh là hình mẫu của một con người luôn phấn đấu cho cái nguyên tắc của đạo đức mới, đạo đức cách mạng “trung với nước, hiếu với dân”. Người luôn có ý thức và hành động vì nước, vì dân. Càng ở vị trí cao của quyền lực do dân giao phó thì Người càng chú ý đến việc phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân một cách tận tụy hơn; tự coi rằng, cái chức Chủ tịch nước là do nhân dân ủy thác cho. Vì thế, Người nguyện suốt đời phục vụ, làm “đày tớ”, làm “công bộc”, thậm chí làm “trâu ngựa” cho nhân dân. Người đau những nỗi đau nhân thế, đúng như Người tâm sự rằng, mỗi người và mỗi gia đình Việt Nam có thể có đau khổ riêng, cộng tất cả những nỗi đau khổ đó lại thì đó chính là nỗi đau khổ của Người.
          Cuộc đời của Hồ Chí Minh là cuộc đời thể hiện rõ ràng nhất phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đó là những đức tính của một con người chân chính; tự tu dưỡng đạt đến độ cao cả, thuần khiết về nhân cách, đạt đến chuẩn mực cái đẹp của con người theo nghĩa đẹp nhất của từ này. Hồ Chí Minh là sự hiện thân của các cặp chỉnh thể của bậc vĩ nhân: cao cả mà bình dị; vĩ đại mà khiêm nhường; tất cả vì cái chung (dĩ công vi thượng), chăm lo đến lợi ích cho từng con người; thấm đượm tinh thần dân tộc chân chính nhất và là con người của nhân loại. Hồ Chí Minh quên đi bản thân mình để lo cho mọi người, không những trên phạm vi dân tộc mà còn trên phạm vi quốc tế. Tình cảm, lòng nhân hậu - nhân ái, bao dung của Người bao la như đại dương. Con người Hồ Chí Minh là con người của văn hóa, tức là sự hiện thân của cái đẹp.
          Như vậy, các thế lực thù địch có muốn hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh, hằng ngày ra rả xuyên tạc, nói xấu Hồ Chí Minh thì chắc chắn đều thất bại. Nói như một chiến sĩ lão thành cách mạng Việt Nam thì những hành động của các thế lực thù địch như vậy chỉ như những con bọ húc đầu vào núi mà thôi. Xem thế đủ biết rằng, những kẻ chuyên đi nói xấu, chuyên đi đặt điều, chuyên đi xuyên tạc, chuyên đi “đâm bị thóc, chọc bị gạo”, “thọc gậy bánh xe” để hạ uy tín, hạ bệ người khác, mà ở đây là hạ bệ một thần tượng tuyệt đẹp của cách mạng Việt Nam - thần tượng Hồ Chí Minh - thì chắc chắn không có chỗ trú trong tâm trí của những người lương thiện. Chính vì thế, họ tự hạ thấp mình và trở thành những con người đáng bị lên án!
          Hãy sống tử tế, hãy tôn trọng sự thật, hãy làm một người có cái tâm lành, đức dày, trí sáng. Đó là lời nhắn nhủ và thông điệp của nhân dân Việt Nam tới những ai đã và đang có âm mưu, hành động hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh.

                                                                             QUANG THẮNG

NÂNG CAO CẢNH GIÁC VỚI HOẠT ĐỘNG THU THẬP BÍ MẬT NHÀ NƯỚC, BÍ MẬT QUÂN SỰ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

           Nâng cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động thu thập bí mật Nhà nước, bí mật quân sự là việc làm có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
          Hiện nay, các “cơ quan đặc biệt” nước ngoài đều tiến hành thu thập, đánh cắp thông tin tình báo. Để thực hiện mục tiêu thu thập tin tức tình báo, họ sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, kết hợp chặt chẽ giữa các phương thức “cổ điển” với sử dụng phương tiện hiện đại, công nghệ cao...; cải cách tổ chức, phương thức hoạt động, với mục tiêu trở thành nguồn cung cấp thông tin tình báo duy nhất, hiệu quả nhất. Trong nhiều lĩnh vực, các cơ quan tình báo nước ngoài đã quay lại hoạt động theo kiểu “cổ điển”, như: tuyển mộ, cài cắm người vào các cơ quan, tổ chức mà họ cho là có nguồn thông tin tốt nhất. Bên cạnh phương thức “cổ điển”, họ còn chú trọng sử dụng đội ngũ chuyên gia, kỹ thuật viên “lành nghề”, đội ngũ “tin tặc” đánh cắp, thu thập thông tin, tài liệu mật; tối ưu hóa tính năng của các phương tiện khoa học công nghệ hiện đại để tiến hành các hoạt động đánh cắp thông tin, tài liệu mật, v.v. Tháng 6 năm 2013, Edward Snowden, cựu nhận viên Cơ quan Tình báo  Mỹ (CIA) đã công bố trên phương tiện thông tin đại chúng về những bí mật trong hoạt động theo dõi người dân, nghe lén điện thoại các tòa đại sứ, kiểm soát và đánh cắp thông tin trên in-tơ-nét,… của Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ (NSA). Đây là một trong những sự kiện nổi bật, gây “cú sốc” lớn đối với nhiều quốc gia, tổ chức và cá nhân trên toàn thế giới. Thủ đoạn sử dụng phương tiện thông tin hiện đại thu thập, đánh cắp thông tin, tài liệu được coi là một trong những biện pháp tích cực nhất trong hoạt động tình báo hiện nay. Chúng có thể sử dụng các thiết bị ghi âm định hướng từ khoảng cách xác định (đây là thiết bị tối tân, có thể định hướng ghi âm từ một khoảng cách xác định mà không cần gắn bất kỳ thiết bị nào vào nơi cần ghi âm); thông qua các phần mềm virus tinh vi để lấy cắp thông tin tài liệu mật từ máy tính của các cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý, nắm giữ; dùng phần mềm Keylogger để lấy mật khẩu hoặc các khóa mật mã, qua mắt các thiết bị an ninh; đánh cắp dữ liệu từ thiết bị kết nối USB (mouse hoặc máy in); đánh cắp thông tin, tài liệu bằng chương trình nghe trộm gói tin, v.v. Theo thống kê, năm 2015, có hơn 3.200 Website của các cơ quan, doanh nghiệp tại Việt Nam bị tấn công bởi các phần mềm gián điệp, virus, facebook,… thông qua lỗ hổng trên hệ thống mạng in-tơ-nét, điện thoại thông minh (smartphone), v.v.
          Một số cơ quan đặc biệt nước ngoài còn lợi dụng đường lối đối ngoại mở rộng của Đảng, Nhà nước ta để tiến hành các hoạt động tình báo, gián điệp, đánh cắp bí mật Nhà nước, bí mật quân sự, phá hoại ta từ bên trong. Chúng đẩy mạnh hoạt động khai thác, thu thập thông tin tình báo bằng nhiều thủ đoạn, kể cả“mỹ nhân kế”, vật chất, tiền bạc,… để tiếp cận, móc nối, lôi kéo, mua chuộc và khống chế người có vị trí quan trọng, hoặc những người thường xuyên tiếp xúc, sử dụng, xử lý những thông tin, tài liệu mật, v.v. Ngoài ra, chúng còn sử dụng nhân viên đội lốt phóng viên báo chí, nhân viên các tổ chức phi chính phủ, đoàn đàm phán, quan hệ hợp tác với nước ta để thu thập tin tức tình báo, phục vụ những mục đích khác nhau.
          Một thủ đoạn tình báo nguy hiểm nữa mà chúng ta cần lưu ý, đó là việc khai thác tin tức tình báo qua nguồn“thông tin mở” (thông tin trên mạng in-tơ-nét, báo chí, tài liệu hủy bỏ,…) của các cơ quan đặc biệt nước ngoài. Theo đánh giá của cơ quan tình báo các nước phương Tây và Mỹ, có những báo cáo tình báo mà trong đó, thông tin lấy từ nguồn mở chiếm tới 90%. Thực tiễn cho thấy, vào đầu những năm 1980, Mỹ có một kho vũ khí đạn đạo chứa 02 loại tên lửa “Chim ưng” và “Nix” tại Tây Đức. Đông Đức đã mua chuộc Snaider, là thợ đốt lò kiêm thu dọn vệ sinh của Kho vũ khí trên. Hằng ngày, Snaider thu dọn rác thải nhưng không mang đi đổ ngay mà đưa về nhà, lọc ra từ đó những thông tin có giá trị rồi gửi cho Cơ quan Tình báo Đông Đức. Qua đó, Đông Đức đã thu được 03 văn kiện tuyệt mật về việc thuyết minh và bảo dưỡng tên lửa “Chim ưng”.
Có thể khẳng định rằng, âm mưu, thủ đoạn hoạt động thu thập bí mật Nhà nước, bí mật quân sự của các thế lực thù địch, phản động diễn ra thường xuyên,  rất quyết liệt bằng nhiều thủ đoạn khác nhau. Để đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn hoạt động đó, không để lộ, lọt bí mật Nhà nước, bí mật quân sự trong bối cảnh nước ta tiếp tục hội nhập, quan hệ quốc tế ngày càng sâu rộng, xin đề xuất một số biện pháp chủ yếu sau:
          Một là, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, thực hiện các chỉ thị, quy định của Đảng, Nhà nước, Quân đội về quản lý, giữ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự; trọng tâm là: Chỉ thị 48-CT/TW, ngày 14-02-2005 của Bộ Chính trị về “Bảo vệ bí mật của Đảng trong phát ngôn và sử dụng, bảo quản thông tin, tài liệu trong tình hình mới”; Pháp lệnh 30/2000/PL-UBTVQH10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa X) về “Bảo vệ bí mật Nhà nước”; Chỉ thị 13/2008/CT-TTg, ngày 11-4-2008 của Thủ tướng Chính phủ về “Tăng cường bảo vệ bí mật Nhà nước trong tình hình mới”; Chỉ thị 197-CT/ĐUQSTW, ngày 22-10-1998 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về “Tăng cường công tác bảo vệ bí mật quân sự, bí mật quốc gia, chống điều tra thu thập tình báo, bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội”, v.v. Qua đó, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch trong lĩnh vực này; không mơ hồ, mất cảnh giác, vô tình tiếp tay cho địch; chủ động phát hiện, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả những hoạt động câu móc, cài cắm người vào nội bộ các cơ quan, tổ chức của ta để thu thập tin tức bí mật.
          Hai là, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ đơn vị an toàn tuyệt đối. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, nhất là các cơ quan cơ mật, trọng yếu, phải chấp hành nghiêm quy định, quy trình về tuyển dụng, bố trí, bổ nhiệm, bảo đảm cán bộ, nhân viên có lý lịch trong sạch, quan điểm chính trị vững vàng và có trình độ chuyên môn cao. Đồng thời, thường xuyên quản lý, nắm chắc tình hình chính trị, tư tưởng, các mối quan hệ của cán bộ, nhân viên cả trong đơn vị, gia đình và địa phương, địa bàn, nhất là đội ngũ cán bộ, nhân viên thường xuyên làm việc, tiếp xúc với người nước ngoài,… kịp thời phát hiện, xử lý các trường hợp vi phạm quy định, vô tình hay cố ý làm lọt, lộ thông tin bí mật. Cùng với đó, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần chủ động phối hợp với chính quyền và các cơ quan chức năng địa phương nơi đóng quân, nhất là phối hợp với lực lượng an ninh Quân đội, Công an theo Nghị định 77/2010/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ, nắm chắc tình hình hoạt động của các đối tượng trên địa bàn, có biện pháp chủ động phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động thu thập bí mật quân sự, câu móc vào nội bộ ta của địch; hoặc những sơ hở, thiếu sót của ta trong công tác giữ gìn bí mật nói chung và quản lý công văn, tài liệu, quản lý, khai thác sử dụng mạng in-tơ-nét, các vật mang tin điện tử,... nhằm hạn chế tối đa các thiệt hại do kẻ địch tác động thu thập đánh cắp thông tin, tài liệu mật.
          Ba là, các cơ quan, đơn vị tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn và có biện pháp ngăn ngừa, chấn chỉnh, khắc phục kịp thời những hạn chế, sai sót trong công tác bảo mật. Định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm về công tác bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, bổ sung hoàn thiện các quy chế, quy định của cơ quan về công tác bảo vệ bí mật quân sự cho phù hợp với thực tiễn cơ quan, đơn vị; làm tốt công tác biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích trong thực hiện tốt công tác bảo vệ bí mật nhà nước.
          Bốn là, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, cũng như các phương tiện bảo mật phù hợp, đáp ứng yêu cầu phục vụ cho công tác bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về công tác bảo vệ bí mật Nhà nước, nhất là các cơ quan Đảng, chính quyền, các ngành cơ yếu, viễn thông, công nghệ thông tin, công nghệ cao…; xây dựng hệ thống tiêu chuẩn về nghiệp vụ quản lý, trang thiết bị kỹ thuật, bảo đảm tốt kinh phí nghiệp vụ và có chế độ, chính sách phù hợp cho cán bộ, nhân viên, những người trực tiếp làm công tác cơ mật của Đảng, Nhà nước và Quân đội.
Ngoài ra, cơ quan quản lý nhà nước cần chú trọng quản lý đội ngũ phóng viên, báo chí trong việc thực hiện Nghị định 72/2013/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ in-tơ-nét và thông tin trên mạng”; chấp hành quy chế quản lý, sử dụng tài liệu mật, đưa tin,… không để “vô tình” lộ, lọt bí mật Nhà nước, bí mật quân sự, đưa thông tin sai lệch,… góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.

                                                                   QUANG HỢP

CẢNH GIÁC VÀ CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC THÔNG TIN THẤT THIỆT TRÊN IN-TER-NET

          Hằng ngày, thông qua in-tơ-nét chúng ta tiếp cận được lượng thông tin khổng lồ; trong đó, có rất nhiều thông tin hữu ích, nhưng cũng không ít thông tin thất thiệt với nội dung xấu, làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, chống phá Đảng, chế độ và sự phát triển đất nước. Vì vậy, cần cảnh giác, tích cực đấu tranh phản bác loại thông tin này.
          Thực tế cho thấy, với sự phát triển của khoa học và công nghệ, quyền dân chủ, tự do thông tin của người dân trên in-tơ-nét thông qua các mạng xã hội và công cụ thông tin, như: Facebook, Twitte, YouTube, Google, Yahoochat, Gmail,… phát triển rất nhanh, liên kết, lan tỏa sâu rộng, với hàng tỷ người sử dụng. Việt Nam được thế giới đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển, ứng dụng in-tơ-nét hàng đầu trong khu vực Đông Nam Á, với gần 52% dân số sử dụng và hơn 100 triệu thuê bao điện thoại di động; mạng xã hội được người Việt sử dụng nhiều nhất là Facebook (khoảng trên 30 triệu người).
          In-tơ-nét đã tạo cơ hội thuận lợi để các tổ chức, cá nhân mở rộng phương thức khai thác thông tin, tăng cường quan hệ giao lưu, hội nhập quốc tế, thúc đẩy sự hợp tác, hiểu biết, giúp nhau cùng phát triển. Đồng thời, qua đó có thể nêu ý kiến, góp ý, phản biện với Đảng, Nhà nước về chủ trương, đường lối, giải pháp xây dựng và phát triển đất nước. Có thể khẳng định rằng, ở Việt Nam, quyền tự do thông tin của người dân thông qua mạng in-tơ-nét ngày càng được đảm bảo tốt hơn, góp phần tích cực nâng cao dân trí, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.           Tuy nhiên, triệt để lợi dụng in-tơ-nét, các thế lực thù địch ở nước ngoài câu kết với phần tử phản động, cơ hội, thoái hóa biến chất trong nước gia tăng các thông tin thất thiệt để tuyên truyền chống phá Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, nói xấu Đảng, chế độ, chia rẽ sự đồng thuận xã hội. Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện có khoảng 400 tổ chức phản động lưu vong; 380 báo, tạp chí và 60 đài phát thanh có chương trình tiếng Việt, hơn 80 nhà xuất bản và hàng nghìn trang web thường đăng tải tin, bài, xuất bản những ấn phẩm có nội dung chống Nhà nước Việt Nam. Ở trong nước, cũng có hàng trăm trang web, blog, Facebook,… do một số kẻ cơ hội, phần tử bất mãn, thoái hóa, biến chất đội lốt “dân chủ” lập nên, lợi dụng “phản biện xã hội” để tung tin thất thiệt, chống phá sự phát triển của đất nước. Mục đích của chúng là đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội và nội bộ, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, gây mất ổn định về chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tiến tới thực hiện “cách mạng màu”, thiết lập chế độ dân chủ tư sản “đa nguyên, đa đảng” ở nước ta. Nội dung của những thông tin này chủ yếu là: xuyên tạc lịch sử, truyền thống dân tộc, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, v.v. Việc đưa loại thông tin này trên in-tơ-nét thường xuyên, tập trung nhất là vào thời điểm đất nước kỷ niệm những ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị trọng đại, hoặc khi tình hình quốc tế, khu vực, trong nước có những diễn biến phức tạp (tình hình Biển Đông, hiện tượng cá chết hàng loạt ở các tỉnh ven biển miền Trung,…). Năm 2015 và 6 tháng đầu năm 2016, chúng tập trung chống phá quyết liệt đại hội Đảng các cấp; bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021. Trong đó, chúng chĩa mũi nhọn vào phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, với Quân đội, Hiến pháp năm 2013 và các bộ luật, luật, dự luật của Nhà nước; phủ định nguyên nhân, ý nghĩa thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, v.v. Thủ đoạn mà chúng sử dụng hết sức tinh vi, thâm độc, với các hình thức như: tăng cường câu kết trong, ngoài, thành lập các tổ chức ngầm; cử lực lượng bám tình hình, lợi dụng những sơ hở, hạn chế, bất cấp trong chỉ đạo, quản lý đất nước của Nhà nước ta để tung tin thất thiệt, xuyên tạc, kích động, chống phá. Đồng thời, tìm kiếm, thu thập thông tin và những ý kiến khác về: kinh tế, quân sự, an ninh, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tình hình xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất,… để bịa đặt, thổi phồng hòng làm cho thật, giả lẫn lộn, gây rối loạn trong xã hội và nội bộ. Đối tượng chủ yếu chúng hướng tới là tầng lớp thanh niên, nhất là các du học sinh, người có trình độ học vấn cao, con em lãnh đạo cấp cao, những cán bộ, đảng viên trẻ có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống hoặc vi phạm Điều lệ Đảng, pháp luật Nhà nước, bị xử lý kỷ luật, những phần tử cơ hội, xét lại, bất mãn. Về lực lượng, chúng liên kết chặt chẽ các tổ chức trong và ngoài nước để thiết lập những “không gian ảo”, tạo ra những trang web đặt máy chủ ở nước ngoài (gần đây đã bắt đầu xuất hiện một số trang sử dụng tên miền Việt Nam - tên miền .vn); liên thông, kết nối với những nhóm cơ hội chính trị, như: “thư ngỏ”, “dân oan”, các “Hội”, “Đoàn”,… những kẻ tự xưng là nhà đấu tranh cho “dân chủ”, “nhân quyền”, đòi “tự do thông tin”, “chống tham nhũng, cường quyền”,… để chuyển tải những thông tin thất thiệt phục vụ cho ý đồ của chúng. Điển hình như các trang: “Quan làm báo”, “Dân làm báo”, “Ba Sàm”, “Diễn đàn xã hội dân sự”, v.v. Ngoài ra, chúng còn thuê tin tặc, sử dụng các biện pháp xâm nhập hệ thống máy tính, luồn sâu vào cơ quan trọng yếu quốc gia nhằm khai thác tư liệu để chống phá đất nước, chế độ ta.
          Cảnh giác, đấu tranh với loại thông tin thất thiệt, làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” trên in-tơ-nét luôn là nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Để làm điều đó, Nhà nước cần có những giải pháp đồng bộ cả về thiết chế (luật, pháp lệnh, nghị định,…), biện pháp kỹ thuật và phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, lực lượng, phương tiện và người dân, tăng cường đấu tranh làm trong sạch, lành mạnh môi trường thông tin trên in-tơ-nét. Theo đó, các cấp cần đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục, định hướng thông tin, tư tưởng cho nhân dân; đồng thời, phát huy mạnh mẽ vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông trên in-tơ-nét. Thực tiễn chỉ ra rằng, khi nào người dân được tiếp cận thông tin chính thống một cách đầy đủ, kịp thời, chính xác thì khi đó họ mới có nhận thức đúng và “miễn dịch”, “tự đề kháng” trước những thông tin thất thiệt, xấu độc; trên cơ sở đó, chủ động đấu tranh loại bỏ thông tin sai trái này một cách hiệu quả. Vì thế, để giữ vững “trận địa thông tin”, bảo vệ quyền tự do thông tin, làm trong sạch môi trường thông tin trong xã hội thì các cấp, nhất là cơ quan chức năng cần thực hiện nghiêm cơ chế cung cấp thông tin (người phát ngôn) đối với báo chí, truyền thông để chuyển tải thông tin nhanh, chính xác, phản bác lại mọi thông tin thất thiệt, độc hại. Đồng thời, qua thông tin chính thống cần chủ động định hướng tư tưởng cho nhân dân trước những sự kiện “nóng”, nhạy cảm trong nước và quốc tế tạo sự đồng thuận trong xã hội với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước. Đặc biệt, cần tuyên truyền để nhân dân thấy rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá Nhà nước ta của các thế lực thù địch trên in-tơ-nét; làm rõ những vấn đề phức tạp mà xã hội đang quan tâm, không để người dân bị “đói”, bị “nhiễu” thông tin. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện nay, Việt Nam có: 857 cơ quan báo chí, với trên 18.000 nhà báo được cấp thẻ nhà báo; có 105 báo, tạp chí điện tử, 248 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí, v.v. Đây là lực lượng quan trọng, vũ khí sắc bén của Đảng để đấu tranh làm thất bại các quan điểm thù địch, sai trái trên in-tơ-nét. Trong thời gian tới, lực lượng này cần tiếp tục phát huy tốt vai trò của mình trong công tác tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội, đồng thời kiên quyết đấu tranh loại bỏ thông tin “bẩn” dưới mọi hình thức.
          Cùng với đó, cần quan tâm xây dựng, củng cố, nâng cao khả năng đấu tranh của lực lượng nòng cốt, chuyên sâu. Đấu tranh phản bác các quan điểm thù địch, sai trái trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa nói chung, trên in-tơ-nét nói riêng là việc làm thường xuyên nhưng không hề đơn giản. Do đó, cùng với lực lượng rộng rãi, cần tổ chức lực lượng đấu tranh nòng cốt, chuyên sâu. Đây là lực lượng có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ lý luận, nhiệt huyết, dũng khí và có trình độ, khả năng chuyên môn cao trong sử dụng các phương tiện kỹ thuật, khai thác in-tơ-nét để viết bài phản bác các thông tin xấu độc. Tuy nhiên, để phát huy tốt hơn nữa vai trò của đội ngũ này, tạo điều kiện cho họ sáng tạo ra những tác phẩm báo chí chất lượng cao, có sức thuyết phục người đọc, cần chú trọng mở các lớp bồi dưỡng chuyên sâu về phương pháp, kỹ năng viết bài và khuyến khích, động viên tự học, tự rèn nâng cao trình độ mọi mặt, cập nhật thông tin, tình hình thực tiễn, v.v. Đồng thời, coi trọng đầu tư, nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, phương tiện,… giúp họ phát huy năng lực trong quá trình đấu tranh với loại thông tin thất thiệt trên in-tơ-nét. Gắn liền với đó, cần thực hiện tốt phương châm gắn “xây với chống”, lấy xây là chính, chống là quan trọng. Trong đó, tập trungxây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tích cực phòng gian, bảo mật, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, nhân dân. Trong quá trình thực hiện, cần xây dựng quy chế, quy định sử dụng in-tơ-nét phù hợp với pháp luật; quản lý chặt chẽ tài liệu mật; nắm chắc địa bàn, nội bộ và các mối quan hệ xã hội của cán bộ, nhân viên; giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, kỷ luật thông tin, nhất là khi trao đổi, chia sẻ trên các trang mạng xã hội, blog cá nhân, đảm bảo không để kẻ xấu lợi dụng thông tin để “nhào nặn” thành tin thất thiệt phục vụ cho mưu đồ của chúng.

                                                                   MINH SƠN

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG TRÒ “ĐÁNH LẬN CON ĐEN” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG

          Để chống phá cách mạng Việt Nam, mà trọng tâm là chống phá Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch không từ một âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt nào. Trong đó, những chiêu trò theo dạng “đánh lận con đen” được họ thường xuyên sử dụng. Vì thế, chúng ta hãy cảnh giác, chủ động đấu tranh, bác bỏ.
          Cần phải khẳng định rằng, mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch là xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới và đương nhiên Việt Nam không phải là ngoại lệ. Chừng nào còn chủ nghĩa đế quốc thì khi đó mục tiêu chống phá còn. Sở dĩ khẳng định điều này là vì xuất phát từ bản chất hiếu chiến, xâm lược và dã tâm thâm độc của họ đã được thực tiễn sống động chứng minh từ khi chủ nghĩa đế quốc ra đời cho đến nay. Vì thế, mặc dù tình hình thế giới và cuộc đấu tranh giai cấp “ai thắng ai” đã có nhiều thay đổi với những hình thức mới, nhưng mục tiêu đó của họ thì không hề thay đổi.
          Để đạt được mục tiêu nhất quán này, họ không từ bỏ bất kỳ âm mưu, thủ đoạn thâm độc nào để chống phá một cách toàn diện. Các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “Diễn biến hòa bình” như một con bài hiệu nghiệm để đánh thẳng vào nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Họ lợi dụng triệt để in - tơ - nét, trang mạng xã hội và các hình thức khác để tuyên truyền, kích động bằng cách biến “không thành có, có thành không”, những việc đơn giản thành phức tạp, cá biệt thành phổ biến, những điều dễ hiểu thành khó hiểu, thực hiện đánh tráo khái niệm, trò “đánh lận con đen”, … hòng gây tâm lý hoài nghi lôi kéo những người hạn chế về nhận thức chính trị phục vụ cho mưu đồ chống phá. Không chỉ có vậy, họ còn lợi dụng những sai lầm, lỗ hổng trong công tác quản lý, điều hành đất nước, những hiện tượng phức tạp nảy sinh ngoài ý muốn chủ quan trong đời sống xã hội để thổi phồng, quy nạp vào bản chất, bóp méo sự thật hòng kích động dư luận. Nếu chúng ta không tỉnh táo, rất dễ rơi vào cái “bẫy” của các thế lực thù địch để rồi hoài nghi, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và sự điều hành của Chính phủ, ảnh hưởng tiêu cực đến sự đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
          Mới đây (trong tháng 4-2016), tại ven biển 4 tỉnh miền Trung Việt Nam (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế) xảy ra sự cố môi trường nghiêm trọng, làm hải sản chết bất thường, gây thiệt hại lớn về kinh tế - xã hội, môi trường biển; ảnh hưởng xấu đến đời sống người dân nơi đây và an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Ngay lập tức, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã lợi dụng việc này để “thọc gậy bánh xe”, thổi phồng, xuyên tạc, kích động chống Đảng, Nhà nước ta. Thông qua các trang mạng xã hội, họ rêu rao rằng, Đảng “vô cảm” trước nỗi đau của nhân dân, “đi ngược” với lợi ích dân tộc; tung ra những khẩu hiệu kích động “cá cần nước sạch, dân cần minh bạch”, lôi kéo người dân tụ tập, tuần hành, với âm mưu tạo ra các cuộc “biểu tình” quy mô lớn, phong trào “cả nước xuống đường”, “cách mạng cá” và các cuộc “bạo động”, đập phá nhà máy nước ngoài, v.v. Đồng thời, nhiều tổ chức “xã hội dân sự” lập nhóm “Cứu môi trường”, gửi thỉnh nguyện thư kêu gọi nước ngoài can thiệp, thổi phồng nguy cơ “mất nước”, “mất đất”, v.v. Họ cố tình lờ đi sự chỉ đạo tích cực, quyết liệt của Chính phủ và các ngành, các cấp có liên quan trong việc khảo sát, xác định nguyên nhân sự cố, những nỗ lực trợ giúp nhân dân, khắc phục hậu quả. Đến khi Chính phủ thông báo nguyên nhân cùng lời xin lỗi, nhận trách nhiệm và cam kết để giải quyết của Formosa,... thì họ tuyên truyền rằng họp báo là “thể hiện sự đạo diễn”, “lấp liếm, bao che”, “chống đỡ áp lực của dư luận” nên chính quyền mới phải vào cuộc! Từ đó, họ hô hào “phải đấu tranh tiếp, kể cả việc chính quyền có công bố ngay thủ phạm, nguyên nhân cá chết”; tiếp tục đưa ra luận điểm gây nghi ngờ trong dư luận, tác động tới tâm lý, niềm tin của người nhẹ dạ cả tin, tìm kiếm cơ hội kích động hành vi gây rối loạn xã hội. Mấy “nhà dân chủ” đã tự bộc lộ bản chất dối trá của họ, rằng khi sự cố xảy ra thì kêu gào đòi phải minh bạch, khi mọi sự đã minh bạch, “hai năm rõ mười” thì nhắm mắt làm ngơ, tiếp tục dựng chuyện bịa đặt chống đối. Cách hành xử đó không những vi phạm pháp luật, mà còn thể hiện sự vô trách nhiệm đối với đất nước, khiến cho sự việc càng rối loạn, gây bất ổn tình hình an ninh chính trị - xã hội. Phải chăng họ hành động “vì dân, vì nước”? Không, không bao giờ! Thực chất là ngược lại – hại dân, hại nước. Tất cả các hành vi và những “nỗ lực phi thường” của họ tự nó phơi bày mục đích, dã tâm là lợi dụng hiện tượng “cá chết” bất thường để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vấn đề môi trường chỉ là nguyên cớ và cuộc sống của các ngư dân ven biển bốn tỉnh miền Trung chỉ là sự lừa bịp, “giả nhân giả nghĩa” của những kẻ “nước mắt cá sấu” không hơn không kém.
          Những người yêu nước, những công dân Việt Nam đích thực đều không khó để thấy rõ sự thật, nhận thức đúng bản chất sự việc, thông qua những nỗ lực giải quyết sự cố của Đảng và Nhà nước ta. Với quan điểm thận trọng, khoa học, chính xác, khách quan và đúng pháp luật, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, các cơ quan khoa học xác định rõ nguyên nhân, đối tượng gây ra sự cố để xử lý, không bao che bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào. Để điều tra, một Hội đồng chuyên gia khoa học và công nghệ quốc gia được thành lập gồm 3 tổ, hội tụ hơn 100 chuyên gia ở trong nước và của hơn 30 viện nghiên cứu, trường đại học của nhiều nước có uy tín trên thế giới làm việc hết sức khẩn trương, bất kể ngày đêm. Điều đó cho thấy quyết tâm chính trị cao của Đảng, Nhà trước ta về sự việc này, trong đó hoàn toàn không hề có chuyện chậm trễ, bao che, “bảo kê” như một số kẻ mang nặng tư tưởng thâm thù tung tin xuyên tạc.
          Những luận điệu tuyên truyền cáo buộc Đảng, Chính phủ “vô cảm” trước cuộc sống của người dân, bị thao túng bởi nước ngoài, chậm trễ trong xử lý, … của phần tử cơ hội chính trị là vô căn cứ, sai sự thật. Điều nực cười ở chỗ, chẳng những họ biết ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ về vụ việc “cá chết”, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo quyết liệt các ban, bộ, ngành, địa phương tập trung giải quyết 9 vần đề; tiếp đó huy động hơn 30 bộ, ngành tham gia thu thập chứng cứ, xác minh và đã ban hành tới 28 văn bản chỉ đạo. Trong đó, Chính phủ ban hành Quyết định 722/QĐ-TTg, ngày 09-5-2016 về hỗ trợ khẩn cấp cho người dân vùng bị thiệt hại với nhiều chính sách hỗ trợ gạo, tiền ra khơi, vay vốn đóng mới ngư cụ, khắc phục hậu quả môi trường. Các địa phương đã hỗ trợ 4.309 tấn gạo đến 40.043 hộ dân; hỗ trợ các hộ nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại hơn 9,825 tỷ đồng; hỗ trợ cho 8.111 chủ tàu, thuyền ngừng khai thác, v.v.
          Nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước với sự tổ chức điều tra công phu, trên diện rộng, Formosa đã tâm phục khẩu phục, công khai nhận trách nhiệm, xin lỗi Chính phủ và nhân dân Việt Nam vì đã để xảy ra sự cố môi trường nghiêm trọng, cam kết bồi thường thiệt hại cho dân, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và phục hồi môi trường biển với tổng số tiền là 11.500 tỉ đồng, tương đương 500 triệu USD; hoàn thiện công nghệ sản xuất để xử lý triệt để chất thải trước khi thải ra môi trường. Đồng thời, phối hợp với bộ, ngành Việt Nam và các tỉnh miền Trung xây dựng giải pháp đồng bộ để phòng, chống ô nhiễm môi trường để tạo niềm tin với người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Họ cam kết không tái diễn vi phạm, nếu vi phạm sẽ chịu chế tài theo quy định pháp luật  hiện hành. Về phía Việt Nam, tại phiên họp trực tuyến giữa Chính phủ với các địa phương ngày 01-7-2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định: “Sẽ đóng cửa Formosa nếu tái diễn sự cố môi trường,... Không phải vì muốn thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài mà chúng ta chấp nhận đánh đổi môi trường”. Đồng thời, Thủ tướng nhấn mạnh, phải nhanh chóng có chính sách bảo đảm đời sống cho người dân bị ảnh hưởng trực tiếp bởi sự cố môi trường, như: thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người dân gặp khó khăn; hỗ trợ dạy nghề, chuyển đổi việc làm; nhanh chóng khắc phục để trả lại sự trong lành cho hệ sinh thái môi trường biển, v.v.  
          Kết quả đó, là câu trả lời đanh thép cho những ai không hiểu hay cố tình không hiểu tình hình thực tế ở Việt Nam và sự cố sự cố môi trường biển nêu trên chỉ là một dẫn chứng điển hình. Mọi hoạt động lãnh đạo của Đảng, điều hành của Chính phủ suy đến cùng là vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của người dân, bảo vệ môi trường và sự thành công của công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó, càng củng cố thêm niềm tin, sự kỳ vọng của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, là bằng chứng thuyết phục nhất phản bác lại những luận điệu sai trái, lấy hiện tượng để đánh giá bản chất, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hãy cảnh giác với trò “đánh lận con đen” xuyên tạc, kích động chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị.        

                                      PHẠM TUẤN MINH

SỰ XUYÊN TẠC TRẮNG TRỢN KHI CHO RẰNG “ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐANG LÀ NHÓM LỢI ÍCH LỚN NHÂT”

           Trong suốt quá trình chống phá cách mạng bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch luôn đặt trọng tâm và chĩa mũi nhọn vào chống phá Đảng và chế độ, với mọi thủ đoạn tinh vi, thâm độc. Gần đây, họ rêu rao rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang là nhóm lợi ích lớn nhất”. Đây là luận điệu hoàn toàn vu khống, xuyên tạc trắng trợn bản chất, mục đích hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam, cần kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.
          Thực tiễn phát triển ở các nước trên thế giới cho thấy, sự ra đời của nhóm lợi ích như là một tất yếu trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đó là tập hợp các cá nhân có chung một hay nhiều lợi ích, như: về kinh tế, chính trị, môi trường, v.v. Hoạt động của họ diễn ra với hình thức khác nhau, khi ngấm ngầm, khi công khai để tạo áp lực, tác động đến cơ quan nhà nước trong việc ban hành chính sách, pháp luật, các vấn đề kinh tế, xã hội,… nhằm đạt được lợi ích của họ. Các nhóm này có thể được tổ chức chặt chẽ, hoạt động lâu dài, công khai, hoặc chỉ liên kết tạm thời cho đến khi đạt được mục đích. Một số quốc gia đã thừa nhận hoạt động của nhóm lợi ích, coi đó như một kênh phản biện xã hội, hình thức dân chủ, để nhà nước tham khảo, nắm dư luận, tạo cân bằng lợi ích giữa các tầng lớp nhân dân. Dưới góc độ này, hoạt động của nhóm lợi ích mang tính tích cực, góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách công của quốc gia. Bên cạnh đó, có những nhóm hoạt động “ngầm”, nhất là trên lĩnh vực kinh tế, hình thành nên “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, lũng đoạn, độc quyền trong sản xuất, kinh doanh, thâu tóm quyền lực, làm cho xã hội phát triển lệch lạc, mất công bằng, bình đẳng. Vì vậy, nói đến nhóm lợi ích, được hiểu theo cả hai nghĩa: tích cực và tiêu cực.
          Còn ở Việt Nam, nói đến “nhóm lợi ích” và “lợi ích nhóm”, là thuật ngữ được dư luận hiểu theo nghĩa tiêu cực nhiều hơn. Bởi vì, trên thực tế, xuất phát từ lợi ích cá nhân mà một số người có “quyền”, có “tiền” câu kết “ngầm” với nhau tác động đến việc hoạch định chính sách, pháp luật về tài chính, ngân sách, đầu tư, đất đai, xây dựng cơ bản, ngân hàng,… để làm sao họ trục lợi được nhiều nhất, mang lại nguồn thu cao nhất. Ngoài ra, nhóm này còn theo đuổi lợi ích về chính trị, danh vọng, quyền lực, chỗ làm cho người thân,… gây tác hại nghiêm trọng đến tâm lý, dư luận, đời sống xã hội và thậm chí nguy hiểm hơn có thể dẫn đến sự phát triển chệch hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước. Điều này không chỉ được dư luận, các phương tiện truyền thông, mà nhiều lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước đã lên tiếng cảnh báo, đấu tranh quyết liệt. Chính vì vậy, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng xác định, đấu tranh chống “lợi ích nhóm” là nhiệm vụ quan trọng.
          Từ đó cho thấy, nhóm lợi ích, tuy có tích cực, cũng chỉ đại diện của một nhóm nhỏ, thậm chí rất nhỏ trong xã hội và mang tính tự phát, tổ chức lỏng lẻo. Nó không phải và không thể là đa số đại diện cho quốc gia, dân tộc, càng không thể trở thành lực lượng lãnh đạo đất nước. Đó là chưa nói đến những nguy hại đối với xã hội do nhóm lợi ích tiêu cực gây ra. Thế mà, các thế lực thù địch lại gán cho Đảng Cộng sản Việt Nam như là một nhóm lợi ích, đồng nhất với nhóm lợi ích khác. Đúng là, “ăn ốc nói mò”, “ăn không nói có”.
          Chúng ta đều biết, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là tổ chức chặt chẽ nhất, mang bản chất giai cấp công nhân và có tính nhân dân rộng rãi. Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển, v.v. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy, xét về tổ chức, tôn chỉ, mục đích, nguyên tắc hoạt động, thì Đảng Cộng sản Việt Nam không thể là nhóm lợi ích như các thế lực thù địch rêu rao. Thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam 86 năm qua của Đảng đã minh chứng rõ điều này, xin nêu mấy nội dung cơ bản sau:
          1. Đảng Cộng sản Việt Nam đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Điều này luôn được Đảng khẳng định, ghi trong Cương lĩnh chính trị, Điều lệ từ khi thành lập đến nay, và được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định. Trên thực tế, Đảng không chỉ kết nạp vào hàng ngũ của mình những người ưu tú trong giai cấp công nhân, mà còn cả những người ưu tú trong các tầng lớp nhân dân lao động, các dân tộc, tôn giáo. Đó là cơ sở xã hội rộng rãi, vững chắc, mà đảng viên là đại diện, có chung lợi ích với các tầng lớp nhân dân, các dân tộc trong xã hội Việt Nam. Vì vậy, lợi ích của Đảng là thống nhất với lợi ích của giai cấp và của cả dân tộc. Nó hoàn toàn khác với các nhóm lợi ích theo cách hiểu thông thường - đại diện của số ít người.
          Không chỉ có vậy, quá trình hoạt động, Đảng luôn tuyệt đối trung thành, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên, giải quyết hài hòa mối quan hệ giai cấp và dân tộc. Trong cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, trước yêu cầu bức thiết phải giành cho được độc lập, mang lại ruộng đất cho dân cày, Đảng đã chuyển hướng mục tiêu đấu tranh từ đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ hằng ngày sang mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc. Vì, “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”1. Với đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn, Đảng đã lãnh đạo tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, giành độc lập, thống nhất nước nhà; nhân dân ta được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột bởi đế quốc, thực dân, phong kiến, trở thành người chủ của một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Trong cuộc trường chinh đó, đã có hàng vạn cán bộ, đảng viên, nhiều đồng chí là lãnh đạo xuất sắc bị giam cầm, tù đày, giết hại2, là minh chứng cho sự hy sinh quên mình vì nhân dân, vì đất nước, vì dân tộc của Đảng.
          Trước khó khăn của cuộc sống, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã bám sát thực tiễn, không ngừng tìm tòi, sáng tạo, tiến hành công cuộc đổi mới đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước từng bị chiến tranh tàn phá nặng nề, đời sống nhân dân cực kỳ khó khăn, bị bao vây, cấm vận,… trở thành nước có thu nhập trung bình, đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Đặc biệt, trước diễn biến phức tạp về tranh chấp chủ quyền biển, đảo trên Biển Đông, Đảng và Nhà nước ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước. Đây là sự thật lịch sử, dẫu thiện chí hay không, cũng không ai có thể bác bỏ. Đó chẳng phải là bằng chứng sinh động khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn hành động vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự tiến bộ, phồn vinh của đất nước đó sao?
          2. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Quyền lãnh đạo đó được hiến định tại Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Đó là tất yếu khách quan, sự thừa nhận và khẳng định của nhân dân về địa vị pháp lý lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; thể hiện uy tín, ảnh hưởng của Đảng trong lòng dân, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện bằng cương lĩnh chính trị, chiến lược, bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Sự lãnh đạo đó còn thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị; phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy; gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chứ không phải độc quyền nhà nước, đứng trên pháp luật như các thế lực thù địch rêu rao!
          3. Với tư cách của một Đảng cách mạng chân chính, đạo đức và văn minh, Đảng Cộng sản Việt Nam không thiên vị, dung túng, bao che cho những sai lầm, khuyết điểm, tiêu cực, tham nhũng của đảng viên, cán bộ. Là một thực thể xã hội, trong quá trình hoạt động, cán bộ, đảng viên của Đảng bên cạnh những ưu điểm, không tránh khỏi những hạn chế, khuyết điểm. Đặc biệt, khi đã có chính quyền, đảng viên nói chung, nhất là những người ở vị trí chủ trì, chủ chốt, có chức, có quyền nói riêng, nếu thiếu tu dưỡng, rèn luyện thì rất dễ dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đó là nguy cơ đối với đảng cầm quyền đã được V.I. Lê-nin cảnh báo từ rất sớm. Song, những đảng viên ấy, sớm muộn cũng sẽ bị loại ra khỏi hàng ngũ. Điều quan trọng là Đảng đã nhận ra khuyết điểm của mình, đề ra biện pháp kiên quyết khắc phục, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ. Đúng như Hồ Chí Minh đã khẳng định, một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình là một đảng mạnh. Những đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước đều phải xử lý theo Điều lệ Đảng và bình đẳng trước pháp luật, không có “vùng cấm” nào cả. Việc làm này được Đảng tiến hành thường xuyên trong quá trình lãnh đạo cách mạng, thông qua các đợt tự phê bình và phê bình, “chỉnh đốn Đảng”. Vì vậy, không nên quy chụp, lấy hiện tượng, dù là “bộ phận không nhỏ” này để đánh giá, quy kết bản chất của Đảng. Bởi như C.Mác đã nói: nếu mọi hiện tượng đều phản ánh đúng bản chất thì mọi khoa học đều trở lên thừa.
          Gần đây nhất, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, từ năm 2012 đến năm 2014, toàn Đảng đã xử lý kỷ luật trên 54.000 đảng viên và xóa tên, cho ra khỏi Đảng hàng nghìn trường hợp, trong đó có nhiều đảng viên phải truy tố trước pháp luật. Cùng với đó, việc xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng được đẩy mạnh; nhiều vụ án nghiêm trọng đã đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật, được dư luận xã hội đồng tình, ủng hộ. Đành rằng, đó là sự mất mát, bài học đau xót đối với Đảng, nhưng là việc phải làm và Đảng ta đã kiên quyết làm một cách nghiêm túc, triệt để. Qua đó, góp phần răn đe, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp. Do đó, Đảng luôn được nhân dân tin tưởng, coi đó là Đảng của mình.
Từ phân tích trên cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy độc lập dân tộc, sự phồn vinh của đất nước, hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu hành động, ngoài ra Đảng không có lợi ích nào khác. Vì vậy, quan điểm cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam cũng chỉ là nhóm lợi ích” là hoàn toàn không có cơ sở. Thực chất, đây là sự xuyên tạc trắng trợn nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

                                                                   HOÀNG TRƯỜNG